Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Tuần dương hạm mang máy bay sẽ thay thế tàu sân bay trong tương lai.

Sở hữu Tàu sân bay chỉ là bước đầu của cuộc chơi tốn kém nhưng nhiều nước vẫn tiếp tục chạy đua dù tương lai của khí tài này đang bị thách thức.
Sự quan tâm dành cho tàu sân bay đặc biệt tăng lên trong thời gian gần đây khi Trung Quốc liên tục "lộ hàng" về tàu sân bay đầu tiên của mình. Tàu sân bay được nhắc đến ở nhiều góc độ khác nhau như: làm sao vận hành hiệu quả, đâu là khắc tinh của nó… Tất cả khắc họa nên bức tranh toàn cảnh về tàu sân bay và cả tương lai của loại khí tài này.

 
Tàu sân bay Mỹ USS John C.Stennis (trái) song hành cùng tàu sân bay Anh HMS Illustrious - Ảnh: Wikipedia
Cũng năm bảy hạng
Hình ảnh những chiếc tàu sân bay hoành tráng của Mỹ dễ khiến nhiều người nghĩ rằng tàu nào cũng to lớn như thế. Nhưng thực tế không phải như vậy bởi tàu sân bay các nước khác khó có thể so bì với Mỹ. Tất nhiên, tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc cũng không ngoại lệ khi nó được chắp vá, tân trang lại từ xác tàu Varyag do Ukraine bán rẻ. 
Tính luôn tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc, thế giới hiện có 9 quốc gia sở hữu tổng cộng 22 tàu sân bay, riêng Mỹ sở hữu một nửa trong số đó. 11 tàu sân bay của Mỹ đều dùng năng lượng hạt nhân, không giới hạn tầm hoạt động và 20 năm mới nạp năng lượng một lần, với 10 chiếc thuộc lớp Nimitz và 1 chiếc thuộc lớp Enterprise. Tàu sân bay lớp Nimitz có độ rẽ nước 100.000 - 110.000 tấn và tàu sân bay lớp Enterprise có độ rẽ nước 93.000 tấn. Cả hai lớp này đều mang được khoảng 90 máy bay chiến đấu và máy bay lên thẳng. Từ năm 1975 đến nay, Mỹ luôn có thêm tàu sân bay mới trong mỗi 2 đến 6 năm, theo website Global Security.
 
Trong khi đó, trong tất cả tàu sân bay của các nước còn lại, chỉ duy nhất tàu Charles de Gaulle (Pháp) dùng năng lượng hạt nhân và không tàu nào có độ rẽ nước quá 60.000 tấn hay có thể mang quá 50 máy bay. Phần lớn trong số đó chỉ mang được khoảng 30 máy bay các loại.
Ngoài ra, với kích thước lớn và di chuyển không linh hoạt, tàu sân bay rất dễ bị tấn công bởi các tàu chiến hay máy bay. Cho nên, tàu sân bay cần phải phối hợp hoạt động với các tàu khu trục, tàu hộ tống, tàu ngầm để đảm bảo an toàn và phát huy hiệu quả. Đó là điều không phải lực lượng hải quân nào sở hữu tàu sân bay đều có thể làm được.

 
Tàu sân bay Thi Lang của Trung Quốc trong quá trình cải tạo - Ảnh: Rewreward
Cuộc đua mới
Gần đây, nhiều nguồn tin cho rằng Trung Quốc đang đóng mới một tàu sân bay tên Bắc Kinh, theo tờ Yomiuri Shimbun. Thêm vào đó, cách "bóng gió" không minh bạch của Bắc Kinh về chuyện này càng thu hút dư luận. Tuy nhiên, nhiều phân tích từ các chuyên gia cho thấy năng lực thực sự của tàu sân bay Trung Quốc vẫn còn lắm thách thức. Ngay cả khi Trung Quốc có tàu sân bay mới, nhưng nếu chỉ tương đương quy mô của chiếc Thi Lang thì cũng mới ngang bằng các tàu sân bay hiện tại của Nga, Pháp, và vẫn thua xa Mỹ. Trong khi đó, nhiều nước cũng đang đóng các tàu sân bay hiện đại hơn nhiều.


Trung Quốc "cần ít nhất 3 tàu sân bay"
Đó là nhận định của tướng La Viên, thuộc Viện Khoa học quân sự Trung Quốc, đăng trên báo Beijing News hôm 29.7. Ông này lập luận: "Ấn Độ và Nhật Bản mỗi nước sẽ có 3 tàu sân bay trước năm 2014. Do đó, tôi nghĩ số tàu sân bay mà Trung Quốc cần có không thể dưới 3 chiếc". Ông Lạc đưa ra nhận định trên chỉ vài ngày sau khi truyền thông Trung Quốc đưa hình ảnh tàu sân bay đầu tiên của nước này, có thể sẽ chạy thử vào tháng tới.
Bên cạnh đó, Đài CCTV của Trung Quốc dẫn lời Chủ nhiệm Ủy ban tư vấn thông tin hải quân Y Trác và chuyên gia Tào Vệ Đông cho biết việc đào tạo phi công sử dụng tàu sân bay đang được thực hiện trên đất liền nhưng không nói rõ thời gian thực hành hạ cánh xuống tàu. Hai người này thừa nhận do phải cải tạo lại tàu và lắp đặt, nâng cấp toàn bộ phụ kiện, vũ khí bên trong nên mất rất nhiều thời gian.
Văn Khoa - Ngọc Bi

Trong Báo cáo về đánh giá chiến lược an ninh và quốc phòng đệ trình lên hạ viện và Nữ hoàng năm 2010, Thủ tướng Anh David Cameron đã nhấn mạnh đến vai trò của các tàu sân bay mới của Anh. Theo kế hoạch, Anh đang phát triển lớp tàu sân bay mới tên Queen Elizabeth với hai chiếc là HMS Queen Elizabeth và HMS Prince of Wales. Tàu sân bay lớp Queen Elizabeth có độ rẽ nước lên đến 65.000 tấn và có thể mang theo 40 máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm F-35 Lightning II, máy bay trực thăng Apache. Năm 2009, Anh đã tiến hành đóng tàu sân bay HMS Queen Elizabeth, theo BBC. Chiếc tàu trên được dự đoán sẽ chính thức hạ thủy vào khoảng năm 2014. Còn tàu sân bay HMS Prince of Wales sẽ hạ thủy vào năm 2016.
Không riêng gì Anh, Pháp cũng đang xúc tiến dự án tàu sân bay mới có độ rẽ nước lên đến 75.000 tấn, tầm hoạt động 10.000 hải lý, có thể mang theo 32 máy bay chiến đấu Rafale. Ấn Độ thì đang hăm hở với dự án hai tàu sân bay lớp Vikrant có độ rẽ nước 40.000 - 60.000 tấn, tầm hoạt động 7.500 hải lý, mang theo được khoảng 30 máy bay chiến đấu. Các tàu sân bay mới của Ấn Độ được kỳ vọng sẽ hạ thủy vào năm 2017 - 2018.
Nổi bật hơn cả trong cuộc đua tàu sân bay vẫn là Mỹ với ba tàu sân bay mới, có tên Gerald R.Ford, John F.Kenedy và một chiếc chưa được đặt tên, thuộc lớp Gerald R.Ford dự kiến hạ thủy lần lượt vào 2015, 2019, 2023. Tàu sân bay lớp Gerald R.Ford sử dụng năng lượng nguyên tử để thay thế dần cho tàu sân bay lớp Nimitz, nhưng có nhiều cải tiến để tăng cường tính linh hoạt.
Tương lai?
Mặc dù tàu sân bay vẫn đang hấp dẫn nhiều quốc gia, nhưng Nga, một cường quốc quân sự lâu năm, đang hướng đến tàu tuần dương có thể mang nhiều máy bay và tác chiến linh động hơn. Trong tương lai gần, Nga đã sẵn sàng xây dựng các tàu tuần dương mang được 30 - 40 máy bay, theo website RusNavy. Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã giao cho Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ trên với kỳ vọng sẽ nhanh chóng có được kết quả vào năm 2013 - 2015. Vũ khí chính yếu của tàu tuần dương không phải là máy bay chiến đấu, mà là các tên lửa tầm xa và vũ khí tác chiến quy mô lớn. Đó chính là điểm khác biệt giữa tàu tuần dương mang máy bay với tàu sân bay.
Bản thân tàu tuần dương đã được trang bị hệ thống phòng không và tấn công đa nhiệm nên sẽ có thể tác chiến độc lập. Mặt khác, các tàu tuần dương trên vẫn có thể chứa được máy bay Su-33 và có đường băng đặt dọc theo thân tàu. Dự án này từng được Nga đặt ra vào những năm 1980 nhưng bị tạm hoãn. Với những ưu thế vừa nêu, tuần dương hạm mang máy bay sẽ là một thách thức lớn cho tàu sân bay trong tương lai.
Ngô Minh Trí

Mỳ - Trung họp kín, Đài Loan lo xa.


Đài Loan đang muốn sở hữu máy bay chiến đấu F-16C/D của Mỹ - Ảnh: US Air Force
Đài Loan đã chính thức lên tiếng bày tỏ lo ngại sau khi Mỹ và Trung Quốc vừa họp kín tại Washington.
Trong chuyến thăm đến Washington (Mỹ), quan chức cấp cao Trung Quốc phụ trách vấn đề Đài Loan Vương Nghị tuyên bố tên lửa của Bắc Kinh không nhằm vào Đài Loan. Tuy nhiên, người đứng đầu Cơ quan phòng vệ Đài Loan Cao Hoa Trụ lập tức bác bỏ tuyên bố trên và nói: “Đài Loan khó tin vào lời nói của ông ấy”, theo tờ The Taipei Times. Ông Cao cho rằng Đài Loan “cảm thấy bị đe dọa bởi tên lửa Trung Quốc” và đó là “một thực tế không thể chối cãi”. AFP thì dẫn báo cáo hằng năm của Cơ quan phòng vệ Đài Loan cho rằng mối đe dọa quân sự của Trung Quốc đại lục đối với đảo này “đang lớn hơn bao giờ hết”. Theo báo cáo trên, Trung Quốc đã triển khai nhiều vũ khí mới tại Phúc Kiến và Quảng Đông nhằm vào phía tây Đài Loan.
Tại Washington hôm 29.7 (giờ địa phương), ông Vương Nghị đã họp kín với Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ William Burns, theo AFP. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Mark Toner không cho biết chi tiết nội dung hội đàm nhưng nhấn mạnh: “Chúng tôi đối thoại với Trung Quốc nhiều vấn đề. Dĩ nhiên điều đó không cản trở quan hệ vững chắc giữa Mỹ và Đài Loan”. Trong khi đó, Tân Hoa xã cho biết ông Vương “đã nhấn mạnh rằng Trung Quốc trước sau luôn phản đối việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan”.
Một bài viết trên The Taipei Times nhận xét chuyến thăm của ông Vương là bước đi mới nhất nhằm ngăn chặn Mỹ bán máy bay chiến đấu F-16C/D cho Đài Loan. Tờ này dẫn lời một nguồn tin cho hay quan chức Vương đã ám chỉ nguy cơ đổ vỡ quan hệ quân sự Mỹ - Trung nếu Đài Loan nhận được máy bay F-16C/D. Trả lời phỏng vấn của tờ Wall Street Journal, lãnh đạo Đài Loan Mã Anh Cửu tỏ ra lo ngại những thay đổi trong quan hệ Washington - Bắc Kinh có thể khiến đảo này khó mua vũ khí hơn.
Giới chức Mỹ cho hay sẽ đưa ra quyết định trước ngày 1.10 về việc có bán F-16C/D cho Đài Loan hay không. Theo The Taipei Times, Đài Loan đã phái người đứng đầu Cơ quan thông tin Dương Vĩnh Minh và người đứng đầu Hội đồng thương mại Lại Hạnh Viên đến Mỹ trong tháng 7 để thuyết phục Mỹ. Cùng mục đích đó, ông Cao Hoa Trụ dự kiến thăm Mỹ vào tháng 9, theo tờ Apple Daily ngày 30.7. Giới phân tích thì cho rằng Washington sẽ không bán và thay vào đó, nâng cấp các máy bay F-16 thế hệ cũ hiện có của Đài Loan.

Đồ họa tuyệt đẹp về anh hùng sử Việt


Với những nét vẽ điêu luyện trên tông màu tối kỳ ảo, những tác phẩm này được cộng đồng mạng đánh giá là không hề thua kém những tác phẩm đồ họa của các nghệ sĩ nước ngoài nổi tiếng…

Từ lâu nay, trên các diễn đàn về game và đồ họa trong nước đã lưu truyền những tác phẩm đồ họa tuyệt đẹp tái hiện hình ảnh các vị anh hùng trong lịch sử, truyền thuyết của Việt Nam như Thánh Gióng, Sơn Tinh - Thủy Tinh, Thạch Sanh… Với những nét vẽ điêu luyện trên tông màu tối kỳ ảo, những tác phẩm này được cộng đồng mạng đánh giá là không hề thua kém những tác phẩm đồ họa nổi tiếng của các nghệ sĩ nước ngoài nổi tiếng. 

Tác giả của chúng là thành viên có nick Marooned, một nhân vật “đình đám” trên nhiều diễn đàn như Gamedev.vn, Zidean.com… Ngoài đời, Marooned có tên thật là Phan Vũ Linh, một chàng trai sinh năm 1975 tại Hà Nội. Là một họa sĩ, anh từng tốt nghiệp ĐH Mỹ Thuật TP HCM và Học viện nghệ thuật (Academy of Art University) ở San Francisco, Mỹ.
Thạch Sanh trong cuộc chiến với Trăn Tinh,một tác phẩm của họa sĩ Phan Vũ Linh.
Theo Phan Vũ Linh, trường phái vẽ của anh khá ít người theo và cũng không có đào tạo chính quy trong nhà trường, chỉ vì yêu thích mà anh theo đuổi, tự rèn luyện đi theo con đường này. Các tác phẩm của anh được thực hiện bằng các phần mềm đồ họa thông dụng như Photoshop, Corel Painter. Những bức vẽ công phu phải mất trên 10 giờ mới hoàn thành, trong khi những bức đơn giản ở dạng phác thảo thì 2-3 giờ là xong. Trong công việc cũng hiếm khi anh có dịp vẽ kiểu này, bởi chỉ cần vẽ đơn giản bằng 30% là cũng đủ đáp ứng yêu cầu khách hàng.

Dù thể loại nghệ thuật mình đam mê vẫn chưa phổ biến ở Việt Nam, nhưng chàng họa sĩ tin rằng tương lai của thể loại này sẽ rất phát triển, đi theo xu hướng phát triển của đồ họa game, hoạt hình, điện ảnh…

Phan Vũ Linh chia sẻ, từ lâu anh đã nung nấu ý tưởng hình thành một bộ sách thần thoại và cổ tích Việt Nam, qua đó mô tả lại những câu chuyện quen thuộc của dân tộc một cách sống động và công phu qua nét vẽ của mình. Điều này không chỉ bắt nguồn từ sở thích, đam mê mà còn còn là ý muốn khơi lại niềm tự hào dân tộc của giới trẻ.

Một số tác phẩm của họa sĩ Phan Vũ Linh:
Lạc Long Quân với chiến công tiêu diệt quái vật Hồ Ly và Ngư Tinh.
Cuộc chiến long trời lở đất giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh để giành nàng Mỵ Nương.
Hình ảnh cận cảnh của Sơn Tinh.
Thủy Tinh.
Những loài vật đại diện cho hai lực lượng đối lập của đất và nước.
Cưỡi ngựa sắt và dùng thân tre làm vũ khí, Thánh Gióng chôn vùi giặc Ân xâm lược.
Thạch Sanh tiêu diệt yêu tinh đại bàng để cứu công chúa Quỳnh Nga.
Những chiến công của Thạch Sanh được tái hiện trong một bức vẽ đầy chất sử thi.
Hình ảnh cận cảnh.
Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và những chiến công lẫy lừng trên sông Bạch Đằng.
Tùy tướng Yết Kiêu trước cuộc chiến với thủy quân Nguyên Mông.
Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản với bàn tay bóp nát quả cam và là cờ thêu sáu chữ vàng “Phá cường địch, báo hoàng ân”.

Nước Mỹ trước tham vọng biển của Trung Quốc


Sự mở rộng của lực lượng Hải quân thuộc Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA-N) xét trong nhiều khía cạnh là một kết cục logic và khó tránh khỏi.

Sự mở rộng của lực lượng Hải quân thuộc Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA-N) xét trong nhiều khía cạnh là một kết cục logic và khó tránh khỏi. Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới; sự phụ thuộc lớn của họ vào thương mại đương nhiên khiến biển ngày càng có tầm quan trọng nhiều hơn đối với sự phát triển đất nước. Nhưng khi các tham vọng biển của Trung Quốc tiếp tục mở rộng, Mỹ đối mặt với một nhiệm vụ khó khăn: thừa nhận các lợi ích của Trung Quốc mà không nhượng bộ cho các đòi hỏi của nước này. Việc Mỹ sẽ đối mặt với thách thức này như thế nào sẽ quyết định tương lai khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cũng như quyết định liệu Mỹ có giữ được vai trò bá chủ trên biển trong thế kỷ tới hay không.
Trong nhiều thập kỷ qua, quân đội Trung Quốc đã cải thiện đáng kể các năng lực tác chiến của mình. Một phần dựa trên các bài học từ việc quan sát các lực lượng quân đội nước ngoài và các cuộc chiến tranh ở nơi khác, PLA đã mở rộng lực lượng của mình (về số tên lửa đạn đạo chẳng hạn), cải thiện năng lực chỉ huy và giám sát, và bắt đầu tham gia thực hiện các chiến dịch chung. Họ cũng đã chuyển từ việc tập trung vào các chiến dịch trên đất liền sang cải thiện các lực lượng trên không và trên biển.
Sự mở rộng của PLA-N xét trong nhiều khía cạnh là một kết cục logic và khó tránh khỏi. Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sự phụ thuộc lớn vào thương mại, cả về nguyên liệu đầu vào để cung cấp cho nền kinh tế ấy cũng như để xuất khẩu, tất yếu khiến biển có tầm quan trọng ngày càng lớn hơn đối với sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, qua thời kỳ "Cải cách và Mở cửa", bắt đầu dưới thời Đặng Tiểu Bình, tầm quan trọng ngày càng lớn của thương mại quốc tế đã khiến trung tâm của nền kinh tế Trung Quốc chuyển dần ra phía biển. Nhiệm vụ phòng thủ biển cũng ngày càng quan trọng đối với giới lãnh đạo Trung Quốc.
Không phải mọi lực lượng hải quân đều được hình thành như nhau. Các ý định cũng quan trọng như - thậm chí hơn - các năng lực. Sự phát triển biển của Trung Quốc có thể đơn giản là nhằm bảo vệ các tuyến đường kinh tế của nước này, hoặc có thể nhằm ép buộc các nước láng giềng cũng phụ thuộc nhiều vào biển. Vì vậy, sự mở rộng hải quân Trung Quốc nên được đánh giá một cách thận trọng và tỉnh táo.
Trung Quốc và biển: sự phụ thuộc ngày càng lớn
Trung Quốc thường được nghĩ đến như một cường quốc lục địa. Trong lịch sử, nhìn chung thì đúng như vậy, dù có những thời kỳ lợi ích của Trung Quốc nằm ngoài biển. Gần đây nhất là những năm 1400, dưới thời nhà Minh, khi Đô Đốc Trịnh Hòa (Zheng He) dẫn đầu "những hạm đội châu báu" trên hành trình viễn chinh khám phá biển Đông và Ấn Độ Dương, tới tận Mogadishu (ở Somalia) trên bờ biển phía Đông châu Phi ngày nay. Tuy nhiên, sau khi Đô Đốc Trịnh Hòa trở về sau chuyến viễn chinh, Trung Quốc đã quay lưng lại với biển.
 

Trung Quốc ngày nay phụ thuộc nhiều hơn vào biển so với Trung Quốc thời phong kiến trước đây. Người Trung Quốc ghi lại rằng, từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO), kim ngạch thương mại của Trung Quốc với các quốc gia khác đã tăng trưởng vững chắc, tỷ lệ thuận với hoạt động kinh tế quốc gia, đạt đến mức tác động tới 60-70% nền kinh tế. Không có thương mại, Trung Quốc sẽ không thể giữ vững được nền kinh tế của mình, chứ chưa nói đến việc duy trì  tỷ lệ tăng trưởng cần thiết để giữ thất nghiệp ở mức thấp - điều được coi là chìa khóa mà đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) duy trì quyền lực.
Giao thương trên biển là một phần quan trọng trong thương mại của Trung Quốc. Theo các số liệu thống kê mới đây của nước này, công bố trong Báo cáo Phát triển Biển Trung Quốc năm 2010, thương mại biển chiếm 9,87% GDP Trung Quốc, đạt gần 3.000 tỷ NDT (456 triệu USD), riêng trong năm 2008. Tuy nhiên, khoảng 85% thương mại quốc tế diễn ra qua các tuyến đường biển.
Một phần quan trọng của thương mại biển là sự phụ thuộc ngày càng lớn của Trung Quốc vào nhập khẩu dầu mỏ để giữ vững nền kinh tế. Trung Quốc nhập hơn một nửa lượng dầu tiêu thụ trong nước năm 2009 và dự tính phải nhập khoảng 65% nhu cầu tiêu thụ mặt hàng "vàng đen" này vào năm 2020. Đa số nguồn dầu nhập khẩu này đến từ Trung Đông, trong đó có Iran và Arập Xêút, đòi hỏi một dòng tàu chở dầu đều đặn tới các cảng biển Trung Quốc. Các vấn đề gần đây ở Kazakhstan, trong đó có việc các công ty dầu lửa phương Tây ngừng khai thác các mỏ dầu lớn ở Kashagan trên biển Caspia, sẽ càng gia tăng sự phụ thuộc của Trung Quốc vào nguồn dầu mỏ từ Trung Đông và các chuyến tàu biển.
Chiến lược phát triển biển của Trung Quốc
Vì phụ thuộc ngày càng nhiều vào biển như trên, người Trung Quốc đã rút ra kết luận là họ phải phát triển một chiến lược điều hành và quản lý sự phát triển biển của mình. Theo các chuyên gia Trung Quốc, một chiến lược như thế phải tính đến ba điều:
-                        Các lợi ích rộng lớn trên biển của Trung Quốc, trong đó có sự phụ thuộc ngày càng tăng vào các hải trình quốc tế phục vụ thương mại;
-                        Các lợi ích an ninh quốc gia của Trung Quốc, trong đó có khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên biển, chống lại sự can thiệp "bá quyền" vào các công việc nội bộ của Trung Quốc, an ninh cho các hải trình, nguy cơ xung đột vũ trang xuất phát từ các yêu sách tranh chấp về biên giới biển hoặc các đảo, và vấn đề Đài Loan
-                        Sự cần thiết phải xây dựng một "xã hội hài hòa" trên biển, trong đó thừa nhận tính tất yếu của cuộc cạnh tranh toàn cầu ngày càng tăng nhằm giành được các nguồn tài nguyên biển.
Tính đến các lợi ích này, chiến lược biển Trung Quốc dựa trên một số suy nghĩ chỉ đạo và nguyên tắc cơ bản. Bắt đầu từ tầm quan trọng của việc duy trì vai trò giám sát của quốc gia đối với lãnh thổ và hỗ trợ các lợi ích quốc gia trong khi dựa vào câu châm ngôn của ông Đặng Tiểu Bình về "Phát triển và Hòa bình" (tức là hy vọng sẽ không xảy ra một cuộc chiến tranh lớn trong thời gian trước mắt).
Nhiệm vụ biển quan trọng đối với sự phát triển tương lai của Trung Quốc bao gồm:
-                        Bảo vệ quyền của Trung Quốc đối với "các vùng nước liên quan";
-                        Phát triển kinh tế biển Trung Quốc;
-                        Tăng cường sử dụng đại dương và quản lý đảo;
-                        Giữ vững môi trường biển;
-                        Phát triển các ngành công nghiệp biển và hải dương học;
-                        Gia tăng những đóng góp của Trung Quốc và ngành hải dương học toàn cầu.
Có nhiều cách để Trung Quốc theo đuổi nhiệm vụ này mà không phải gây hấn. Chẳng hạn Báo cáo Phát triển biển đã ghi nhận tầm quan trọng của việc tham gia các dự án hợp tác quốc tế. Nhưng cùng lúc, báo cáo này cũng cho rằng Trung Quốc không nên nhượng bộ các yêu sách hoặc lợi ích biển của mình chỉ để tránh những cáo buộc về "mối đe dọa Trung Quốc" hay nhân nhượng các nước lớn. Thay vì thế, báo cáo nhấn mạnh các lợi ích quốc gia rộng lớn của Trung Quốc đòi hỏi nước này theo đuổi sự phát triển biển. Nói ngắn gọn là Trung Quốc đã chuẩn bị để theo đuổi một loạt chính sách quốc gia mang tính xác quyết nhằm kiểm soát các vùng lãnh hải và vùng biển tiếp giáp - ngay cả khi các chính sách này có thể xung đột với các cường quốc biển và các nước láng giềng.
Các công cụ của sức mạnh biển Trung Quốc
Để hỗ trợ đầy đủ các nhiệm vụ và bảo vệ các lợi ích trên, Trung Quốc đã mở rộng mọi công cụ của sức mạnh biển, trong đó có ngành công nghiệp đóng tàu, các công ty tàu biển và các lực lượng hàng hải và hải quân.
Vì thương mại của Trung Quốc tăng trưởng, hàng hóa của Trung Quốc thường được đem tới các điểm đến tiêu thụ của mình trên các phương tiện của chính Trung Quốc. Hai trên 10 công ty vận tải container lớn nhất trên thế giới là của các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc: Tập đoàn vận tải biển Trung Quốc (COSCO), và Công ty TNHH Vận Tải Biển Trung Quốc (CSCL).
Nhiều trong số các con tàu này được ra đời trong các xưởng đóng tàu Trung Quốc. Trung Quốc trở thành xưởng đóng tàu lớn nhất thế giới năm 2010, soán ngôi lâu năm của Hàn Quốc; "các tàu do Trung Quốc đóng có tổng trọng tải 65,5 triệu tấn, chiếm 43% khả năng trọng tải của các tàu được đóng trên thế giới". Tuy nhiên, các công ty đóng tàu Trung Quốc không chỉ phục vụ trong nước. Năm 2010, đa số đơn đặt hàng mới của các xưởng đóng tàu ở Trung Quốc đến từ nước ngoài.
Ngành công nghiệp đóng tàu Trung Quốc bao gồm một loạt các xưởng đóng tàu tư nhân nhỏ lẻ, nhưng hầu hết tập trung vào hai trung tâm đóng tàu lớn, Tập đoàn Đóng tàu Quốc gia Trung Quốc (CSSC) và Tập đoàn Công nghiệp Đóng tàu Trung Quốc (CSIC). Đây đều là hai doanh nghiệp nhà nước (SOEs).
CSIS có 140.000 nhân viên và tài sản trị giá 27,5 tỷ USD. Dây chuyền sản xuất của công ty gồm một loạt các loại tàu, như tàu chở dầu, tàu chở hàng trọng tải lớn, tàu container, cầu cảng RO/RO cho phép xe cộ lên xuống, và các loại tàu đặc dụng. Công ty cũng chế tạo tàu chiến cho quân đội Trung Quốc. Giống như các SOEs khác, công ty này trên thực tế là một tập thể phối hợp dọc và bao gồm không chỉ các xưởng sửa chữa và đóng tàu, mà cả các viện thiết kế, trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm, tuyển dụng khoảng 30.000 kỹ sư. Tương tự CSIC không chỉ sản xuất vỏ tàu mà cả động cơ diesel, các linh kiện điện tử, và một loạt phương tiện vận tải biển.
Với khoảng 95.000 nhân viên, CSSC nhỏ hơn CSIC một chút. Nhưng giống như CSIC, công ty này sản xuất cả tàu dân sự và quân sự, và tham gia một loạt các nghiên cứu và thiết kế khác. CSSC chế tạo một loạt tàu cho tiêu dùng dân sự, nhưng trọng tâm chính là phục vụ quân sự. Trang web của công ty mô tả CSSC là "lực lượng xương sống của hải quân Trung Quốc trong lĩnh vực xây dựng".
Một số lực lượng khác bảo vệ các lợi ích biển ngày càng tăng của Trung Quốc. Một trong số đó là Cơ quan thực thi pháp luật nghề cá (FLEC), một cánh tay của Phòng quản lý nghề cá thuộc Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, có trách nhiệm tuần tra các ngư trường của Trung Quốc. Cơ quan này có ba đội tàu đầu não, nắm quyền điều hành các đơn vị địa phương thiết lập tại các thành phố lớn và các tỉnh duyên hải. FLEC huy động khoảng 10-20 tàu lớn, gồm các tàu tuần tra có trọng tải từ 1.000 tấn và một tàu ngầm cứu hộ gần 5.000 tấn. FLEC phối hợp đều đặn với Lực lượng Tuần duyên Mỹ (USCG), trong đó có chương trình "Cưỡi tàu", theo đó các sỹ quan FLEC cùng tuần tra trên các tàu của USCG trong mùa đánh bắt.
Bộ Giao thông Trung Quốc quản lý Cục An toàn đường thủy Trung Quốc (MSA). Tương tự như USCG, MSA có trách nhiệm trong các vấn đề an toàn biển và theo dõi và kiểm soát ô nhiễm trên các con sông lớn của Trung Quốc cũng như ở vùng bờ biển. Cục này cũng quản lý các biện pháp hỗ trợ và kiểm soát vận tải biển. MSA giám sát 20 chi cục cấp tỉnh của mình, trong đó có các tỉnh duyên hải và dọc các sông Dương Tử, Châu Giang và Hắc Long Giang. Các chi cục này lại có nhiệm vụ giám sát 97 chi nhánh địa phương. MSA có hạm đội xuồng ca nô của mình, trong đó ít nhất ba chiếc có trọng tải hơn 1.000 tấn.
Một phần khác của lực lượng hàng hải Trung Quốc là Lực lượng hải giám Trung Quốc (CMS), thuộc Tổng Cục Đại dương quốc gia. Lực lượng này cũng có ba hạm đội tàu nhỏ chính và sở hữu "300 xuồng ca nô, trong đó 30 chiếc có trọng tải trên 1.000 tấn". Không ca nô nào trong số này trang bị vũ khí. CMS có trách nhiệm giám sát nơi mà Trung Quốc gọi là "biển gần", đồng thời theo dõi tình trạng ô nhiễm, phá hoại môi trường và khai thác tài nguyên cũng như tiến hành các cuộc thăm dò đại dương học.
Giống như FLEC, CMS tiến hành tuần tra tại các vùng nước tranh chấp ở những nơi như biển Đông, nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trong khi giữ cho các cuộc tranh chấp này "bản chất dân sự". Mới đây, một tàu thăm dò của Việt Nam đang thăm dò dầu khí ở vị trí cách bờ biển Việt Nam 80 hải lý đã bị các tàu tuần tra Trung Quốc cắt cáp - một sự cố được cho là có liên quan đến các đơn vị của CMS. Cùng lúc các tàu của CMS được cho là đã tới vùng biển của Philippines, dựng các cột trụ trong khu vực này - một hành động vi phạm trắng trợn biên bản ghi nhớ của Trung Quốc với ASAN liên quan đến cách ứng xử trên biển Đông.
Lực lượng thứ tư là Lực lượng Bảo vệ bờ biển Trung Quốc (CCG), một lực lượng bán quân sự trực thuộc Bộ Công an nhưng gồm các thành viên lực lượng Cảnh sát vũ trang nhân dân (PAP). CCG được chia thành 20 đội tàu nhỏ, mỗi đội tương đương với một đơn vị cấp trung đoàn trong PLA. Các tàu của lực lượng này có trọng tải từ 130 - 1.500 tấn và đa số được trang bị vũ khí. Trong một số trường hợp, các tàu của CCG là tàu khu trục nhỏ cũ, do PLA-N chuyển giao. Nhiều khả năng giống như PAP, GGC sẽ có một vai trò trong thời chiến, phục vụ hậu cần cho PLA.

Biển Đông: Tại sao trật tự của Trung Quốc lại có vấn đề?



Việc chính phủ Trung Quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá, bắt ngư dân, sử dụng tàu hải giám giữ nhiệm vụ "giám sát" được miêu tả như trong vị thế của một hoàng đế, xem dưới gầm trời này tất cả điều là tài sản của thiên tử và không ngần ngại sử dụng vũ lực quân sự nếu lợi ích bị xâm phạm.
Lời dẫn: Luận điểm chính của bài viết này "Đi tìm một trật tự mới cho Biển Đông" cho rằng sự chuyển đổi nhanh chóng cấu trúc sức mạnh tại khu vực đã ảnh hưởng và thách thức trật tự hiện có tại biển Đông.
Với việc lý giải lại các điều khoản trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) phục vụ tùy theo lợi ích, và nâng mức độ từ người tham gia, thành tác nhân "giám sát", Trung Quốc đang chuyển từ việc chấp nhận thỏa thuận ngầm trong những trụ cột trật tự hàng hải khu vực sang thái cực phản đối và đối chọi, dần dần trên đường xây dựng một trật tự dưới ảnh hưởng của mình. Những hành động này đang là nguồn gốc của căng thẳng xảy ra trong thời gian gần đây.
Hướng tới hòa bình và thịnh vượng chung, một "trật tự mới" cần được tái lập trong đó nhấn mạnh nhu cầu bức thiết về quá trình „định chế hóa" như một giải pháp căn cơ lâu dài, trong đó phân biệt giữa „phương tiện" và „cứu cánh" trong cách tiếp cận chính sách cho các nước ASEAN và Việt Nam.
Phần 1: Tại sao "trật tự" của Trung Quốc là vấn đề?
Một khu vực "trật tự" hàm ý các hoạt động, sự việc xảy ra trong phạm vi này được quy định và kiểm soát. Thường thì bằng luật "cứng", được hiểu như điều khoản, quy định, pháp lệ. Như tại một ngã tư đèn đỏ là dừng, đèn xanh duy chuyển, còn đèn vàng là dấu hiệu chuẩn bị. Hay bằng luật "mềm", ví như cách hiểu giữa các thành viên cộng đồng; đồng thuận, giữ gìn và bày tỏ thái độ nếu có cá nhân nào vượt quá giới hạn cho phép. Như trong bệnh viện thì đi nhẹ nói khẽ, nơi công cộng nên có hành vi đúng mức, ưu tiên cho người thiểu năng, nhường nhịn phụ nữ có thai.
Điểm giao thoa của hai góc nhìn này là giúp cho quan hệ giữa thành viên có thể nhận diện bằng các tín hiệu được đoán trước. Nếu bệnh viện được phép hò la như sân đá banh, ai muốn ra vào lúc nào cũng được, hay không còn sự tương kính, nhường nhịn giữa người và người trong cộng đồng, thì tính "trật tự" sẽ không giá trị, và hành vi giữa mỗi người chuyển dịch theo một dấu hiệu khác.
Từ trật tự đến vô trật tự cách nhau một gang tay, là xuất hiện của một hành động ngược lại các quy chế, chuẩn tắc chung mà mọi người đang theo đuổi. Vô trật tự dẫn đến rối loạn vì thiếu vắng chỉ dấu dẫn dắt về hành vi.
Trên bình diện trong một quốc gia, Nhà nước và cộng đồng là hai tác nhân đảm bảo trật tự. Khi một cá nhân vi phạm, Nhà nước trừng phạt bằng luật lệ, xã hội răn đe bằng đạo đức. Trên bình diện quốc tế, sự việc phức tạp hơn, song hành nhiều góc nhìn nhận định.
Hình dung thứ nhất miêu tả thế giới là thực trạng vô chính phủ, khi một siêu nhà nước không tồn tại, và một siêu cộng đồng cũng không hiện hữu. Để đảm bao an ninh buộc các quốc gia giải quyết vấn đề bằng sức mạnh.
Cân bằng quyền lực là chính sách được tiến hành hàng thế kỷ qua từ Âu sang Á. Cân bằng nội lực thông qua tăng cường súng ống, khả năng quốc phòng. Ngoại lực bằng cách thiết lập liên minh, tham gia tổ chức liên kết quân sự. Điểm giữ cho hệ thống ổn định là mức độ cân bằng, tức là không có sức mạnh nào trở thành vượt trội.
Và đó là nguyên tắc phân định giữa góc nhìn thứ hai, xem sức mạnh là một phần của luật chơi, nhưng tính vượt trội của một siêu cường đóng vai trò then chốt. Thứ nhất, khoảng cách sức mạnh quá lớn để các nước khác có thể cân bằng. Thứ hai, siêu cường giữ vai trò lãnh đạo, "đứng mũi, chịu sào" bài toán "hàng hóa công", thứ rất cần cho việc thúc đẩy hợp tác, nhưng đắt, và ít cá nhân nào có khả năng chi trả, hay chấp nhận trả một mình. Có thể kể đến vai trò của Hoa Kỳ trong trong công cuộc tái thiết châu Âu với kế hoạch Marshall hay Đức quốc và Pháp trong kế hoạch thống nhất EU. Hay dàn binh bố trận của hải quân Mỹ để đảm bảo tự do lưu thông trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Trật tự lúc này ổn định nhờ sự có mặt của "vương quyền".
Vượt qua bài toán sức mạnh, hình dung thứ ba được xây dựng trên cơ sở luật và chuẩn tắc. Luật pháp qui phạm những hành vi hợp pháp, và không hợp pháp. Chuẩn mực quy phạm những việc nên hay không nên. Liên Hiệp Quốc (Hiến chương, các bộ luật quốc, các cơ quan chấp pháp) và công luận quốc tế là phiên bản gần nhất cho hình dung về một công lý tối thượng, và một giá trị bao trùm. Bên cạnh đó là quá trình định chế hóa các mối quan hệ quốc tế với lập luận: luật là điều kiện cần, chuẩn tắc đằng sau luật là điền kiện đủ đề điều khiển tất cả hành vi.

Ảnh minh họa BBC
Có sức mạnh của sự cân bằng, có siêu cường nắm vai trò ổn định và tồn tại luôn những cơ chế  pháp lý chính thức cũng như bán chính thức đề quy định hành vi, Biển Đông và tranh chấp tại đây vẽ lên bức tranh hỗn hợp. Bức tranh này tuy vậy đang dần dần ngược lịch sử về quá khứ, khi xu hướng sức mạnh và tự diễn dịch (thay vì giải quyết bằng luật pháp và tìm đồng thuận) đang dần dần nắm thế thượng phong.
Thứ nhất, xuất phát từ sự khác biệt về quan niệm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Trung Quốc, tự do hàng hải tại khu vực đang được định nghĩa lại dưới một lăng kính khác.
Theo UNCLOS, các nước ven biển có chủ quyền tuyệt đối tại vùng biển nội thủy và lãnh hải (không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở), và hưởng thụ quyền lợi kinh tế bao gồm khai thác, thăm dò, đánh bắt v.v... tại EEZ (rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở). Trong khi các hoạt động quân sự, do thám, nghiên cứu của tàu thuyền nước ngoài hoàn toàn không được cho phép trong vùng lãnh hải, hoạt động này được xem là không vi phạm quy chế trong khu vực EEZ.
Ngược lại, Trung Quốc cho rằng các quốc gia ven biển không những có thẩm quyền kinh tế đối tại EEZ mà còn thẩm quyền về tất cả hình thức hoạt động khoa học khác. Điều này có nghĩa là mọi công tác nghiên cứu, đo đạc, khảo sát thủy văn đều phải được sự cho phép quốc gia ven biển.
Việc tàu do thám Impeccable năm 2009 là một thí dụ cho thấy các diễn dịch và hành xử mới của chính phủ Bắc Kinh về luật Biển. Làm nhiệm vụ thăm dò cách đảo Hải Nam 75 dặm phía Nam, bên ngoài lãnh hải, nhưng trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của nước này, Impeccable đã bị nhiều tàu Trung Quốc bao vây.
Phía Mỹ lập luận, Trung Quốc vi phạm luật và thông lệ quốc tế, vì Impeccable chỉ thực công việc khảo sát, và không có dấu hiệu gì cho thấy đã gây tổn thương đến quyền lợi kinh tế theo quy chế EEZ. Đáp trả, Bắc Kinh cho rằng Hoa Kỳ lợi dụng quyền tự do giao thông chuyển hướng tiến hành hoạt động thu thập tình báo, gây phương hại đến an ninh quốc gia.
Qua sự kiện trên có thế thấy rằng, thỏa hiệp giữa quyền kinh tế của quốc gia ven biển và quyền vận chuyển quá cảnh của các nước theo tập quán quốc tế - dưới góc nhìn của Bắc Kinh - nên được thay thế bằng nâng cấp mức độ EEZ tương đương với quy chế lãnh hải, nơi nước ven biển được hành xử chủ quyền một cách không giới hạn.
Bằng cách hợp thức hóa thông qua pháp lý (đạo luật đặc quyền kinh tế trong Bộ Luật Khảo sát và Bản Đồ năm 2002, mở rộng từ điều số 9 của luật Biển 1998 quy định cấm tàu các nước khác khảo sát, đo đạc trong EEZ), cùng áp lực ngoại giao (Bắc Kinh đã nhiều lần kêu gọi Mỹ giảm dần, tiến tới chấm dứt các chiến dịch tuần tra khảo sát vùng biển để tránh "va chạm về hàng hải"), Trung Quốc dần dần định chế hóa khu vực EEZ của mình thành khu đặc quyền quân sự.
Một mặt đây có thể xem như một cố gắng giảm dần ảnh hưởng của Mỹ trong vùng biển Đông. Mặt khác, mâu thuẫn với điểm đầu tiên, chính phủ Bắc Kinh lại cho phép mình "tự do hàng hải" trên khu vực EEZ của các nước tranh chấp khác.
Và khác với các quốc gia ven biển có lập luận tương tự, nhiều chỉ dấu thể hiện rằng việc thụ hưởng quyền này đang hình thành dựa trên nền tảng sức mạnh chiến hạm thay vì định chế giữ tiếng nói cuối cùng. Bài viết mới đây của tác giả Dana Dillon trên tạp chí Policy Review ví von biển Đông là đụng độ giữa hai thế giới quan, một là của cộng động thế giới qua lăng kính "chủ quyền quốc gia" như trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc và UNCLOS quy định, một là "trung tâm-ngoại vi" của Trung Quốc với Bắc Kinh ở tâm điểm cùng nhiều vệ tinh quay xung quanh như mô thức chư hầu trong lịch sử.
Dưới góc nhìn trên, việc chính phủ Trung Quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá, bắt ngư dân, sử dụng tàu hải giám giữ nhiệm vụ "giám sát" được miêu tả như trong vị thế của một hoàng đế, xem dưới gầm trời này tất cả điều là tài sản của thiên tử và không ngần ngại sử dụng vũ lực quân sự nếu lợi ích bị xâm phạm. Nếu trở thành chính sách chủ đạo, "trật tự mới" của Bắc Kinh rõ ràng không những đe dọa nghiêm trọng nguyên tắc chủ quyền mà các quốc gia trong vùng xem như "tối thượng", mà còn góp phần hiện thực hóa dự đoán bi quan của trường phái duy thực xem tương lai của châu Á là quá khứ của châu Âu: là chiến tranh, đụng độ, xung đột vũ trang.

Trung Quốc ngụy biện đường lưỡi bò



Bất chấp sự chỉ trích mạnh mẽ của quốc tế về đường lưỡi bò tham lam, vô căn cứ, truyền thông Trung Quốc tiếp tục tuyên truyền cho dân chúng trong nước về yêu sách chủ quyền chiếm gần trọn diện tích biển Đông này.
LTS: Bất chấp sự chỉ trích mạnh mẽ của quốc tế về sự mơ hồ, vô căn cứ và yêu sách tham lam trong tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc (còn gọi là đường lưỡi bò, đường chữ U, đường chín đoạn), bao trùm lên 3/4 diện tích Biển Đông, giới lãnh đạo và truyền thông nước này vẫn tìm mọi cách tuyên truyền cho công chúng trong nước này cũng như quốc tế về đường lưỡi bò. Mới đây, tờ China Daily bản Tiếng Anh lại đăng bài viết với những nguỵ biện về tính hợp pháp của đường lưỡi bò. Chúng tôi giới thiệu tới độc giả như một tư liệu tham khảo. Công việc phản biện, xin dành cho các nhà khoa học.
Những bằng chứng lịch sử cho thấy, người Trung Quốc đã phát hiện ra các đảo ở Biển Đông từ thời Tần (221-206 TCN) và thời Hán (206 TCN - 220 SCN). Các hoạt động đi lại và đánh bắt cá giới hạn ở những vùng nước của Đông Sa và Tây Sa bởi các vua thời nhà Đường (618-907 SCN), khi Trung Quốc bắt đầu điều động lực lượng hải quân để kiểm soát và thực thi thẩm quyền với khu vực.
Vào thời nhà Tống (960-1279) và Nguyên (1271-1368), người Trung Quốc mở rộng các hoạt động của họ tới vùng nước thuộc các quần đảo Trung Sa và Nam Sa. Những hoạt động bao trùm tất cả các đảo diễn ra trong thời nhà Minh (1368-1644) và Thanh (1644-1911), do đó đã thiết lập biên giới hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông.
Trung Quốc đã tăng cường các nỗ lực để bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông kể từ đầu thế kỷ 20. Chính phủ Quốc dân đảng đã xem xét và thông qua tên tiếng Trung Quốc và tiếng Anh cho toàn bộ các đảo, vỉa đá Trung Quốc ở Biển Đông trong tháng 12/1934 và lần đầu tiên tập hợp chúng lại thành bốn quần đảo.
Một bản đồ xuất bản vào tháng 4/1935 cho thấy chi tiết các đảo của Trung Quốc ở Biển Đông, đánh dấu mũi cực nam của Biển Đông là Zengmuansha ở vĩ độ Bắc 4.
Một bản đồ khác xuất bản tháng 2/1948 cho thấy, sự phân chia hành chính của Cộng hòa Trung Hoa. Bản đồ còn hiển thị đường 11 đoạn bao quanh bốn quần đảo với điểm cực nam ở Zengmuansha. Đây là bản đồ đầu tiên đánh dấu biên giới hàng hải hình chữ U của Trung Quốc ở Biển Đông.
Các bản đồ ra đời sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập vẫn giữ lại đường 11 đoạn, và cho tới năm 1953, thì hai đoạn đánh dấu Vịnh Bắc Bộ bị xóa. Sau đó, tất cả bản đồ Trung Quốc đều đi theo đường chín đoạn, hình chữ U.
Ảnh Minh họa: china.usc.edu
Đường chữ U là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài thiết lập chủ quyền của Trung Quốc với các đảo ở Biển Đông và vùng nước lân cận. Tháng 10/1947, các tài liệu mà bộ nội vụ trình bày với chính phủ Quốc dân đảng cho thấy tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc với các đảo và vùng nước bên trong đường chữ U.
Ngược lại, Việt Nam, Malaysia và Philippines hầu như không biết bất kỳ điều gì về các đảo ở Biển Đông trước triều nhà Thanh (1644-1911), cũng như không có bằng chứng chứng tỏ các hoạt động của tổ tiên họ ở Biển Đông, dù chỉ là để lại một cái tên với bất kỳ hòn đảo nào.
Biên giới hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông là kết quả của tiến trình lịch sử, và đây là quốc gia duy nhất để phát triển khu vực liên tục trong suốt quá trình lịch sử. Bởi thế, người Trung Quốc có quyền chính yếu với các đảo ở Biển Đông.
Theo chuyên gia luật người Trung Quốc Triệu Hải Lý, Trung Quốc sở hữu danh nghĩa lịch sử với các đảo, bãi đá ngầm, bãi cạn trong phạm vi đường chín đoạn, mặc dù điều đó không có nghĩa là toàn bộ vùng biển trong đường này thuộc về vùng nội thủy của Trung Quốc.
Dù Công ước LHQ về Luật Biển 1982 (UNCLOS) không đề cập cụ thể về danh nghĩa lịch sử, thì điều 15 của công ước nói: "Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp do có những danh nghĩa lịch sử hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác cần phải hoạch định ranh giới lãnh hải của hai quốc gia một cách khác".
Người Trung Quốc đã đánh bắt và đi lại ở Biển Đông hơn 2.000 năm, và Trung Quốc đã thiết lập danh nghĩa lịch sử laai dài trước khi UNCLOS có hiệu lực. Danh nghĩa lịch sử của Trung Quốc với các đảo ở Biển Đông phù hợp với UNCLOS và luật pháp quốc tế, do đó cần được tôn trọng.
Khi Trung Quốc lần đầu tiên công bố đường chữ U ở Biển Đông, cộng đồng quốc tế đã không phản đối nó cũng như không phản đối các nước láng giềng chống lại nó. Thay vào đó, đường chín đoạn là một phần của những bản đồ mà họ xuất bản, phản ánh sự chấp thuận của họ về chủ quyền của Trung Quốc với các đảo ở Biển Đông.
Tuy nhiên, vài năm gần đây, một số quốc gia Đông Nam Á đã đặt câu hỏi về tính hợp pháp của đường chín đoạn, nhưng yêu cầu của họ không hợp lý.
Sau khi UNCLOS được thông qua, công ước này thực sự quan trọng để giải thích một cách thích hợp và khoa học về đường chữ U. Nhưng đường chữ U đã hình thành từ lâu trước khi UNCLOS có hiệu lực, và việc sử dụng công ước để quyết định liệu đường chín đoạn được thiết lập từ lâu là hợp lý hay phủ nhận sự hợp pháp của nó thực tế là đã phản đối lịch sử.
Tất cả các nước ký UNCLOS nên hiểu rằng, công ước chỉ là một trong các luật pháp về biển của quốc tế (vốn không chỉ có một) và vì thế nên ngừng nghi ngờ về tính hợp pháp về đường chín đoạn của Trung Quốc.
* Tác giả là nhà nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu về Biên giới Lịch sử và Địa lý Trung Quốc, thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc.
  • Thụy Phương (Theo China Daily)

Chủ nhật lần 9 - Tạm ngưng biểu tình chống Trung Quốc

Sau tám Chủ Nhật biểu tình vì biển đảo, người dân tại Hà Nội tạm ngưng tuần hành chống TQ, mô tả là "để họ và lực lượng an ninh được nghỉ ngơi".



Một số người dân từng tham gia biểu tình ở Hà Nội nói với BBC hôm 31 tháng Bảy rằng "mọi người cũng muốn có cơ hội giao lưu, thư giãn"sau các sự kiện gần đây, tuy nhiên có tin là một số người dân có ý định sẽ biểu tình trở lại vào Chủ Nhật tới đây, ngày 07 tháng Tám.
Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện, một trí thức có mặt tại cuộc gặp gỡ với khoảng hơn 100 người tham dự ở một quán cafe gần khu vực tọa lạc của Bộ Ngoại giao VN tại Hà Nội cho BBC biết chi tiết về việc ngưng tuần hành tại Hà Nội, cũng như đánh giá về cuộc tuần hành một tuần trước đó, hôm Chủ Nhật 24/7 tại khu vực Hồ Hoàn Kiếm.
"Cuộc biểu tình yêu nước và tưởng niệm các chiến sỹ đã hy sinh để bảo vệ Tổ Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa được diễn ra vào sáng Chủ Nhật tuần trước đã thành công theo đúng như mong muốn của những người VN yêu nước," ông Diện nói.
"Cũng tại cuộc biểu tình đó, lực lượng an ninh của TP Hà Nội đã giúp cho cuộc biểu tình có được an ninh, trật tự, khi người ta bày tỏ lòng yêu nước, cũng như lòng tưởng vọng biết ơn đến những chiến sỹ đã bỏ mình vì nước trước đây.
"Trước tình hình đó, giới nhân sỹ, trí thức quyết định là Chủ Nhật tuần này sẽ không tham gia biểu tình."
Trước đó, hôm 30 tháng Bảy, trên trang blog cá nhân của mình, ông Diện cũng cho hay việc ngưng tuần hành còn để "các lực lượng an ninh" được nghỉ.
"Để mọi người (trong đó có các lực lượng an ninh) cùng được nghỉ ngơi, thư giãn, Chủ nhật tuần này, các nhân sĩ trí thức không tham gia biểu tình (trừ trường hợp Trung Quốc tiếp tục gây hấn)."
Tuy nhiên, cũng trên trang blog này, chỉ một ngày sau xuất hiện thông tin cho hay: "Hôm nay, mọi người đã cùng quyết định tiếp tục biểu tình tại khu vực Hồ Gươm vào Chủ Nhật tới (07/08/2011)."
"Xúc động và hào hùng"
Trịnh Kim Tiến (blog)
Cô Trịnh Kim Tiến nói việc tham gia biểu tình yêu nước không liên quan gì tới cái chết của cha đẻ.
Trong số các gương mặt trí thức, nhân sỹ và quần chúng được tường thuật hiện diện tại quán Cafe nằm trên đường Điện Biên Phủ, có TS Nguyễn Quang A, Kiến trúc sư Trần Thanh Vân, Giáo sư Ngô Đức Thọ, Giáo sư Phạm Duy Hiển, nghệ sỹ violon Tạ Trí Hải, nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo, TS Nguyễn Văn Khải, GS. Nguyễn Đông Yên, GS. TS Nguyễn Thị Thanh và nhiều người khác.
Một số trang blog trong nước cũng cho hay từ Sài Gòn cũng có một cuộc gặp gỡ tương tự tại một quán Cafe khác, với sự hiện diện của một số vị như GS Tương Lai, GS. Chu Hảo, nhà thơ Nguyễn Duy và các nhân vật khác như Nguyễn Xuân Xanh, Lê Công Giàu, Ngô Tiến Nhơn, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Bá Thuân…
Từ quán Cafe gặp gỡ ở Hà Nội, Cô Trịnh Kim Tiến, một nữ sinh viên mới tốt nghiệp Cao đẳng Bách Khoa, người đã tham gia nhiều cuộc tuần hành chống TQ trong các tuần qua mô tả không khí của cuộc gặp gỡ trưa 31 tháng Bảy:
"Không khí rất là nhộn nhịp, rất nhiều vị nhân sỹ, trí thức có mặt," cô Tiến, người chính là con gái của ông Trịnh Xuân Tùng, nạn nhân trong vụ bị trung tá Nguyễn Văn Ninh, công an phường Thịnh Liệt, Hà Nội, cùng một số dân phòng đánh chết ngày 28/02/2011, mô tả.
Nguyễn Tiến Nam
"Em tham dự tuần hành với tư cách một thanh niên, sinh viên VN yêu nước. Và không hề có gì liên quan tới việc của ba em. Lần đầu tiên em đọc được một bài viết về 'Nỗi đau của Hoàng Sa' và sau đó diễn ra các cuộc tuần hành, thì em đã quyết định tham gia tuần hành cùng mọi người," cô giải thích về lý do tham gia biểu tình yêu nước của mình.
Một thanh niên khác có mặt tại cuộc gặp gỡ tại quán Cafe, Nguyễn Tiến Nam, người thanh niên đã được những người tuần hành "giải cứu" trong một lần đi biểu tình và bị Công an Quận Hoàn Kiếm "bắt giữ" cho hay thêm về cuộc họp mặt.
"Không khí rất xúc động và hào hùng. Tất cả những nhân sỹ, thanh niên và người dân có mặt ở đây gặp gỡ nhau để giao lưu, nói về Hoàng Sa và Trường Sa và trong đó có một người thầy giáo của tôi," nam thanh niên này thuật lại.
"Chúng tôi nói về sự xâm lấn của Trung Quốc, về sự đẹp đẽ và dài rộng của đất nước và hát cho nhau nghe những bài hát về Hoàng Sa-Trường Sa, đọc cho nhau nghe những bài thơ thể hiện tình yêu nước, tấm lòng của mọi người đối với đất nước và quê hương."
"Gặp rắc rối"
Gặp gỡ 31/7/11 (Blog Nguyễn Xuân Diện)
Cuộc gặp gỡ tại quán cafe ở Hà Nội hôm Chủ Nhật 31/7/11 được mô tả có khoảng trên 100 người tham dự.
Tuy nhiên, Nguyễn Tiến Nam cho hay từ sau khi tham gia các cuộc biểu tình, tuần hành ở Hà Nội, anh thường xuyên gặp "rắc rối" với chính quyền.
"Tôi gặp rắc rối nhiều lần. Có một lần, bên an ninh gửi thư đến địa chỉ nhà trọ của tôi, đe dọa những người bạn cùng phòng trọ của tôi. Thư gửi cho tôi, nhưng phong bì thư đề theo một cách thức để những người cùng trọ nghĩ rằng tôi thế nào đó, thì mới bị gửi thư như vậy để đe dọa.
"Lần mới nhất đây, tôi bị hai người an ninh hay theo dõi tôi đập vỡ một gương chiếu hậu của xe của tôi... Họ cầm một viên gạch đập vỡ xe của tôi, vì tôi hay dùng gương chiếu hậu xem xem có ai theo tôi không. Và họ cảnh báo tôi rằng sau sẽ còn những sự kiện mạnh hơn nữa để xử lý tôi," Tiến Nam kể lại và đưa ra cáo buộc.
Một người khác có mặt tại cuộc gặp gỡ chiều Chủ Nhật tại quán cafe tại Hà Nội, kỹ sư tốt nghiệp ĐH Bách Khoa, Lê Dũng, cho hay ông đã nhận được giấy triệu tập của an ninh với ký do đã "ký đơn đề ngày 19/7 gửi Giám đốc Công an Hà Nội," ông Nguyễn Đức Nhanh, và sẽ gặp đại diện cơ quan này sau hôm Chủ Nhật.
Ông Dũng cũng cho biết sau khi tham gia các cuộc tuần hành, một số cảnh sát khu vực đã tiếp cận với ông ở địa phương sinh sống và khuyên ông không tiếp tục tham gia.
Nguyễn Chí Đức, bị công an chìm đạp vào mặt
Một người tham gia biểu tình khác cũng có mặt tại cuộc gặp mặt hôm Chủ Nhật là Nguyễn Chí Đức, vốn được biết tới rộng rãi sau khi xuất hiện trong một tấm hình mà anh được ghi nhận là người đã bị các lực lượng an ninh "khiêng" lên xe buýt để giải tán và bị một nhân viên an ninh thuộc CA Quận Hoàn Kiếm dùng chân hành hung vào mặt.
Chuyên viên tin học trẻ tuổi này nói cho tới nay anh vẫn chưa rõ vì sao an ninh lại có "hành vi" được cho là thô bạo đó.
"Em nghĩ những người lãnh đạo an ninh cũng không nghĩ là họ dùng những hình thức như thế đâu. Em nghĩ chẳng qua đó là bột phát, hoặc do cá nhân, hoặc một lý do nào đó không rõ, mà không phải là sự chỉ đạo."
"Sau sự kiện đó, không chỉ riêng an ninh, mà nhiều hàng xóm và đồng nghiệp cũng tiếp xúc với em. Sau sự việc, nhiều công an ở địa phương và người ở xóm phố, hay bạn bè lâu ngày không gặp cũng hỏi thăm."
"Em cũng giống như mọi người, tất cả đều có một tâm tư tình cảm muốn chia sẻ sau thời gian dài hai tháng xuống đường. Em cũng muốn hòa đồng với mọi người và em nghĩ đấy cũng là cảm xúc chung của tất cả mọi người hôm nay," Nguyễn Chí Đức nói với BBC trong lúc tham dự cuộc gặp gỡ trong Chủ Nhật đầu tiên, Hà Nội ngưng tuần hành.

Trung Quốc - Bạo động ở Tân Cương - 14 người chết.

Bạo động ở Tân Cương, 14 người chết
Cảnh sát tìm cách giải cứu con tin trong vụ tấn công tại Hòa Điền ngày 18.7 - Ảnh: Reuters
Cảnh sát Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, Trung Quốc đã bắn chết 4 nghi phạm và bắt giữ 4 người trong vụ bạo động tại thành phố Kashi ngày 31.7.
Tân Hoa xã dẫn lời một số nguồn tin địa phương cho hay lúc 16 giờ 30 phút, Kashi rúng động vì một tiếng nổ lớn và sau đó đụng độ xảy ra giữa một nhóm người với lực lượng an ninh. Các nguồn tin trên cho biết ít nhất 3 người thiệt mạng do vụ nổ trong khi thông báo chính thức của chính quyền nói có 10 người bị thương. Cảnh sát đang truy nã thêm 4 người bị nghi gây ra bất ổn.
Vụ việc xảy ra chưa đầy một ngày sau khi 2 kẻ đâm chết ít nhất 6 người và làm 28 người bị thương cũng tại Kashi. Theo Tân Hoa xã, vào lúc 23 giờ 45 phút ngày 30.7, các thủ phạm sát hại một tài xế xe tải để cướp xe, lái đến một khu chợ rồi ào xuống đâm chém loạn xạ. Sau đó, người dân vây đánh 2 thủ phạm, làm một tên thiệt mạng.
Một phát ngôn viên chính quyền Tân Cương cho AFP hay 2 kẻ tấn công đều là người Duy Ngô Nhĩ và tên còn sống đã bị bắt nhưng không cho biết chi tiết. Trước đó, một nhóm người tấn công đồn cảnh sát ở thành phố Hòa Điền, cũng thuộc Tân Cương. Hậu quả là 22 người thiệt mạng, bao gồm 14 kẻ tấn công bị lực lượng an ninh tiêu diệt, theo Tân Hoa xã.
Các vụ bất ổn khiến người dân Tân Cương đang rất lo ngại bạo động sẽ lại bùng phát như hồi tháng 7.2009 ở thủ phủ Urumqi, vốn khiến khoảng 200 người chết và 1.700 người bị thương.

-=- Ảnh đẹp -=-

-=- Ảnh đẹp -=-
TKT