Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trung Quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

Chiến lược đại dương của Trung Quốc

Trung Quốc đề ra chiến lược đại dương gồm hai mũi nhọn, và đang thực hiện chiến lược đó bằng chương trình hiện đại hóa và xây dựng lực lượng đầy ấn tượng.
> Chiến đấu cơ tàng hình J-20
> Tên lửa diệt hạm Đông Phong

Trong suốt một thập kỷ qua, khi phương Tây đang bận rộn chiến đấu với những phần tử Hồi giáo cực đoan ở Trung Đông và Trung Á, Trung Quốc đã bắt tay vào một nỗ lực khổng lồ và nhanh chóng, nhằm đưa quốc gia này trở thành một cường quốc hải dương ở Tây Thái bình dương và Ấn Độ dương. Đó là nhận xét của Robert C. O'Brien, luật gia nổi tiếng và từng là đại diện của Mỹ phát biểu tại Đại hội đồng LHQ khóa 60. Ông viết về chiến lược đại dương của Trung Quốc trên tờ The Diplomat, tạp chí chuyên sâu về châu Á Thái Bình dương xuất bản online tại Nhật.
Trung Quốc nhiều năm qua tập trung chi tiêu cho lực lượng lục quân của Quân đội Giải phóng nhân dân, còn không quân và hải quân không được chú trọng bằng. Tuy nhiên, với việc trình làng tàu sân bay đầu tiên - dự kiến vào tháng 8 - thì cả thế giới, đặc biệt là Mỹ và các đồng minh, đều nhận thấy rõ ràng rằng mọi sự đã thay đổi lớn. Trung Quốc có tham vọng đại dương, và tham vọng đó được hậu thuẫn bởi công cuộc xây dựng lực lượng hải dương lớn chưa từng thấy trên thế giới kể từ đầu thế kỷ trước, khi Hoàng đế Wilhelm II (trị vì Đức và Phổ từ 1888 đến 1918) quyết định thách thức sức mạnh hải quân của Anh với việc xây dựng một hạm đội đại dương.
Máy bay tàng hình thế hệ thứ 5 của Trung Quốc. Ảnh: Defensetalk.
Máy bay tàng hình thế hệ thứ 5 của Trung Quốc. Ảnh: Defensetalk.
Theo O'Brien, sự lớn mạnh của lực lượng hải dương Trung Quốc dựa trên một chiến lược gồm hai mũi nhọn. Thứ nhất, Trung Quốc tìm cách ngăn chặn Mỹ và các cường quốc trên biển khác tiếp cận vùng nước lân cận quốc gia, gồm Hoàng Hải, Hoa Đông và Hoa Nam (Việt Nam gọi là Biển Đông).
Điều này (1) tương tự như Mỹ từng làm với vùng biển Caribbea trong thế kỷ 20, và từ đó hải quân Mỹ có thể tung hoành khắp thế giới; (2) kiểm soát các nguồn tài nguyên và quần đảo tranh chấp như Trường Sa và Điếu Ngư/Senkaku trong khu vực lân cận; và (3) tạo cho Trung Quốc khả năng tái thống nhất Đài Loan về đại lục mà không bị vướng sự can thiệp của Mỹ, nếu có. Những cuộc va chạm hoặc quấy rối của các tàu Trung Quốc với tàu của các nước khác như Mỹ, Việt Nam và Philippines trong thập kỷ qua là bằng chứng cho thấy một quyết tâm ngày càng cao trên mặt trận này.
Thứ hai, Trung Quốc tìm kiếm danh tiếng cũng như khả năng triển khai lực lượng trên các tuyến hàng hải ở Thái Bình dương và Ấn Độ dương, bằng cách đưa vào sử dụng các tàu sân bay và máy bay tiêm/cường kích thế hệ thứ 5. Nền kinh tế phát triển vũ bão của Trung Quốc đòi hỏi nguyên nhiên liệu từ châu Phi và Trung Đông, và vì thế việc bảo vệ các tuyến hàng hải quan trọng ở Ấn Độ Dương và eo Malacca là trọng trách mà Bắc Kinh tất nhiên không muốn nhường cho những cường quốc khác.
Ngân sách chính thức dành cho quân sự của Trung Quốc năm 2011 là 91,5 tỷ USD, lớn gấp nhiều lần so với con số của năm 2000 là 14,6 tỷ. Trung Quốc thừa nhận rằng hiện nay một phần ba ngân sách quốc phòng là để chi cho hải quân. (Những con số này vẫn bị phương Tây nghi ngại cho là dưới mức thực tế nhiều). Trong khi đó, tiền chi cho binh sĩ, thủy thủ và phi công ở Trung Quốc thấp hơn nhiều so với các nước phương tây - nơi mà tiền dành cho quân nhân chiếm một miếng lớn trong cái bánh ngân sách. Điều này cho phép Trung Quốc chi phần lớn ngân sách quốc phòng vào việc mua sắm và phát triển các hệ thống vũ khí. Trong khi các nước phương tây giảm thì Trung Quốc tăng chi cho quốc phòng và sẽ còn tiếp tục tăng trong những năm tới.
Một trong những mục tiêu quan trọng của chương trình hiện đại hóa lực lượng hải dương của Trung Quốc là ngăn chặn. Chiến lược ngăn chặn sẽ dựa trên hai phương tiện đóng vai trò xương sống, thứ nhất là tên lửa đạn đạo chống hạm DF-21 Đông Phong (ASBM), thường được mệnh danh là "sát thủ chống hàng không mẫu hạm"'; thứ hai là hạm đội tàu ngầm đang được mở rộng hơn bao giờ hết.
Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc. Mới đây nước này cho biết sẽ sử dụng con tàu này để phục vụ công tác huấn luyện. Ảnh: US Navy.
Tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc. Mới đây nước này cho biết sẽ sử dụng con tàu này để phục vụ công tác huấn luyện. Ảnh: US Navy.
Tư lệnh hải quân Mỹ ở Thái Bình dương, đô đốc Robert F. Willard từng đánh giá rằng tên lửa Đông Phong đã đạt đến giai đoạn có thể triển khai, nhưng chưa nhất thiết được triển khai. Các nguồn tin Đài Loan thì cho hay Trung Quốc đại lục đã triển khai tới 20 tên lửa đạn đạo chống hạm như thế. Cho dù các tên lửa này đã hay sẽ được triển khai trong tương lai gần, thì Mỹ đều tin rằng Trung Quốc đã xây dựng được khả năng thu thập tin tức, theo dõi và trinh sát, điều khiển và chỉ huy trên không, cũng như trên mặt đất liên quan đến Đông Phong. Trung Quốc cũng đã sử dụng một loạt các thiết bị cảm biến và giám sát mặt đất và trên biển nhằm thu thập và cung cấp thông tin về mục tiêu cho tên lửa Đông Phong. Tầm bắn 2.600 km của tên lửa này, theo các tin tức có được gần đây, sẽ là điều khiến các nhà hoạch định chiến lược hải quân các nước đau đầu khi tính đến chuyện hoạt động gần bờ biển của Trung Hoa.
Chương trình tàu ngầm của Trung Quốc rất mạnh. Trong suốt thời chiến tranh lạnh, nước này hầu hết sử dụng các tàu ngầm hoạt động gần bờ do Liên Xô chế tạo. Những năm 1990, Trung Quốc bắt đầu mua tàu ngầm tấn công diesel-điện lớp Kilo do Nga sản xuất, và sau đó bắt tay vào phát triển hai chiếc tàu ngầm cùng loại lớp Song, mỗi năm chế tạo hai chiếc trong suốt hai thập niên qua. Nước này cũng nghiên cứu chế tạo cả tàu tấn công diesel-điện lớp Yuan, có hệ thống cánh quạt chạy cực êm. Các chuyên gia quân sự cho rằng trong những năm tới đây Trung Quốc sẽ cho ra mắt các tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Shang, củng cố cho hạm đội tàu ngầm vốn đã mạnh của họ. Chắc chắn Trung Quốc hiểu rằng khả năng chiến đấu của hải đội tàu ngầm Mỹ đã tăng tiến kể từ sau Chiến tranh Lạnh.
Tuy nhiên năng lực của hải quân Trung Quốc còn vươn xa hơn nhiều so với yêu cầu ngăn chặn, nó còn để thể hiện sức mạnh. Điều đang gây chú ý đối với cộng đồng quốc tế là chiếc tàu sân bay đầu tiên sắp thử nghiệm cũng như các phi cơ chiến đấu/ném bom thế hệ thứ 5 của Trung Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc cũng vừa công khai việc đóng hàng không mẫu hạm thứ hai, lớn hơn chiếc Varyag, và dự kiến sẽ xong trong năm 2015. Cường quốc mới nổi này đang lập kế hoạch đóng tàu sân bay thứ ba, và sau đó có thể là các tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân nữa, vào 2020.
Đóng vai trò quan trọng ngang với các tàu chiến là các máy bay chiến đấu triển khai trên hàng không mẫu hạm. Lực lượng chủ yếu của hải quân PLA là các tiêm kích J-15 Flying Shark (Cá mập bay), tương đương chiến đấu cơ F-14 Con ma của Mỹ đã nghỉ hưu. Phi cơ J-15 chỉ có tầm hoạt động hạn chế do phụ thuộc yếu tố tải trọng khi cất cánh trên đường băng.
Tuy nhiên nhiều người tin rằng với những tiến bộ vượt bậc của công nghệ hàng không cũng như hệ thống phóng trên các tàu sân bay tương lai của Trung Quốc, thì tính năng của J-15 cũng sẽ có thể sánh ngang với F-18 Super Hornet của hải quân Mỹ. Trung Quốc cũng có thể sẽ phát triển máy bay trinh sát và cảnh báo sớm (AWACS) và đây sẽ là một tiến bộ đáng kể. Một tấm ảnh trên Internet xuất hiện hồi tháng 5 cho thấy một góc của mô hình giống hệt như máy bay trinh sát và cảnh báo sớm Yak-44 do Liên Xô đề ra ý tưởng, có thiết kế tương đồng với E-2 Hawkeye của Mỹ.
Báo chí thế giới tập trung chú ý vào chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của chiến đấu cơ tàng hình thế hệ 5, chiếc J-20, tại Thành Đô, Tứ Xuyên, đúng vào thời điểm Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ khi đó là Robert Gates đang ở thăm Bắc Kinh và hội đàm với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Tin tức về J-20 xuất hiện trên bản tin tối của các đài truyền hình toàn thế giới.
Sự phát triển nhanh chóng và thành tựu công nghệ hiện đại của Trung Quốc đã khiến nhiều nhà quan sát bất ngờ và thừa nhận rằng họ đã đánh giá thấp khả năng quân sự cũng như chương trình hiện đại hóa của Trung Quốc. Rõ ràng là giờ đây thế giới đang chứng kiến một cường quốc hải quân mới, sau gần 200 năm thống trị của sức mạnh hải quân Anh - Mỹ.
Thanh Mai

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

Trung Quốc phong tỏa cảng Đại Liên



Cục an toàn hàng hải tỉnh Liêu Ninh Trung Quốc đã ra thông báo phong tỏa toàn bộ khu vực xung quanh cảng Đại Liên.
Vùng màu đỏ là khu vực bị phong tỏa kể từ ngày hôm nay. Ảnh:Clubchina
 
Khu vực neo đậu của tàu sân bay Varyag. Ảnh: Clubchina
>> Thi Lang nhả khói chuẩn bị hạ thủy?

Theo đó toàn bộ tàu thuyền sẽ bị cấm đi vào khu vực này từ ngày 4-16 tháng 8/2011.

Trong thông báo phong tỏa khu vực cảng Đại Liên mà cơ quan an toàn hàng hải Liêu Ninh đưa ra, sở dĩ họ phong tỏa khu vực cảng này là để phục vụ cho mục đích quân sự.

Khu vực phong tỏa bắt đầu từ vị trí neo đậu hiện tại của tàu sân bay Thi Lang (Varyag)  cho đến gần hết khu vực eo biển Bột Hải. Sự kiện phong tỏa này được thông báo là để cho các thử nghiệm sơ bộ ban đầu của tàu sân bay Thi Lang.

Trên các tuyến đường dẫn đến cảng Đại Liên và các tuyến đường xung quanh, tất cả các phương tiện không có phận sự đều không được phép vào khu vực này. Chính quyền địa phương cho biết, tất cả người dân cũng như phóng viên không được phép quay phim, chụp hình trong khu vực thử nghiệm của Thi Lang.

Các đơn vị  kiểm soát quân sự bắt đầu tăng cường làm nhiệm vụ kể từ hôm nay 4/8/2011. Cảnh sát địa phương cũng đã ra thông báo cho tất cả người dân trong khu vực không được leo núi cũng như sử dụng các tòa nhà cao tầng cho mục đích chụp ảnh. Bất cứ trường hợp bất thường nào đều bị bắt giữ và thẩm tra tại cơ quan cảnh sát địa phương.

Sự kiện ra thông báo phong tỏa khu vực cảng Đại Liên một cách bất thường này khiến dư luận không khỏi thắc mắc. Mặc dù, mục đích của cuộc phong tỏa này được cho là để thử nghiệm tàu sân bay, tuy nhiên có thể đây chỉ là một hành động che mắt dư luận trước sự cố của tàu ngầm hạt nhân Trung Quốc. Tag: Hải quân Trung Quốc, Hải quân các nước trên thế giới, Tàu sân bay Thi Lang, Tàu sân bay Trung Quốc

Trước đó, theo một thông tin từ cơ quan tình báo Nhật Bản, một tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc đã gặp sự cố gần cảng Đại Liên và gây rò rỉ phóng xạ ra khu vực xung quanh. Thông báo phong tỏa khu vực cảng Đại Liên một cách gắt gao của chính quyền địa phương và quân đội Trung Quốc càng làm cho thông tin này có cơ sở hơn. T

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011

Trung Quốc quay cuồng săn tìm dầu



Nhu cầu dầu của Trung Quốc trong tháng 5 tiếp tục gần đạt tới mức kỷ lục 9,3 triệu thùng/ngày (bpd), tăng 8,3% so với cùng kỳ năm ngoái, theo thống kê của Uỷ ban Cải cách và Phát triển Quốc gia (NDRC).
 (Theo Atimes)
Trong năm 2010, tiêu thụ dầu của Trung Quốc tăng 11% so với cùng kỳ năm trước ở mức trung bình 9,2 triệu bpd. Mức kỷ lục được thiết lập vào tháng 4 với 9,36 triệu bpd.
Theo giới phân tích, cơn khát dầu Trung Quốc có thể giảm tốc giữa những dấu hiệu "nguội dần" của nền kinh tế. Ước tính tăng trưởng kinh tế Trung Quốc năm 2011 ở mức 9 -9,5% thay vì mức 10%-10,5%. Trong tháng 6, nhập khẩu dầu của Trung Quốc giảm ở xuống thấp nhất trong vòng 8 tháng ở con số 5,7% so với tháng trước và 11,5% với cùng kỳ năm trước. Tuy vậy, trừ khi nền kinh tế Trung Quốc hoàn toàn ngừng chạy, nếu không sự sụt giảm chỉ giống như đốm sáng tạm thời.
Trong 4,8 triệu bpd mà Trung Quốc nhập khẩu năm ngoái (52% tổng tiêu thụ dầu của nước này), gần một nữa đến từ Trung Đông. Ảrập Xêút, Iran, Oman, Kuwait và Iraq chiếm khoảng 45% tổng lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc năm 2010.
Sự phụ thuộc vào nguồn dầu nhập khẩu ước tính sẽ gia tăng, với những nguồn cung mới đặc biệt đến từ đường bộ ở chính châu Á - điều mà các nhà hoạch định an ninh năng lượng tin là đỡ rủi ro hơn các nguồn cung đường biển như tuyến vận chuyển qua Eo biển Malacca.
Ví dụ, từ đầu năm nay, Nga bắt đầu vận chuyển dầu sang Trung Quốc thông qua hệ thống ống dẫn Skovorodino - Đại Khánh, một nhánh của dự án Đông Siberia - Thái Bình Dương (ESPO) mà Trung Quốc đã cho Nga vay 25 tỉ USD đầu năm 2009. ESPO khởi nguồn cách Trung Quốc 4.800 km tại vùng Irkutsk.
Khi Nga bắt đầu xây dựng mạng lưới Skovorodino với khoản vay của Trung Quốc, thì Trung Quốc đã xây dựng đường sắt nối từ biên giới Nga tới Đại Khánh. Tháng trước, phó Thủ tướng Nga Igor Sechin tuyên bố, việc vận chuyển dầu có thể gia tăng để cung cấp cho một nhà máy lọc dầu liên doanh giữa Rosneft và Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC), nhà máy này được cho là đang trong quá trình xây dựng gần Bắc Kinh với công suất 260.000 bpd, và Nga dự kiến cung cấp hơn 2/3 tổng số.
Theo cơ quan Năng lượng Quốc tế tại Paris, dự án hợp tác này là một phần của nỗ lực thúc đẩy gia tăng gấp bội công suất lọc dầu quốc gia Trung Quốc (hiện tại là 10 triệu bpd) vào 2016. Các cuộc đàm phán cũng được tiến hành với Tập đoàn Dầu khí Kuwait cho một nhà máy lọc dầu 300.000 bpd ở tỉnh Quảng Đông, bao gồm việc xây dựng một mạng lưới bán lẻ cho phép Kuwait đạt mục tiêu xuất khẩu 500.000 bpd sang Trung Quốc.
Ảnh minh họa: yozonia
Cho dù liên doanh nhà máy lọc dầu Trung - Nga xây dựng gần Bắc Kinh, và cho dù nhu cầu tổng thể của Trung Quốc ngày một lớn, nhưng không phải tất cả dầu ESPO sẽ tới Trung Quốc. Đó là vì Nga muốn đa dạng hóa cơ sở khách hàng của mình ở nước ngoài (đặc biệt là mục tiêu Nhật Bản và Hàn Quốc) bằng cách sử dụng cảng Kozmino, cách không xa biên giới của họ với Trung Quốc và Triều Tiên.
Các công ty dầu mỏ Trùng Quốc thậm chí đã vươn xa tới cả Iraq trong công cuộc tìm kiếm thêm nhiều nguồn cung cấp.
Tổng cộng sản lượng dầu sản xuất ở nước ngoài của các công ty Trung Quốc đạt 1,2 triệu bpd năm 2009, bao gồm cả dầu Trung Quốc nhập khẩu từ Kazakhstan kể từ năm 2005. Đường ống dẫn đầu Kazakhstan - Trung Quốc mang theo dầu cả ở Kazakhstan và Nga, ước tính trong năm nay đạt công suất dự kiến 400.000 bpd.
Ở đây còn chứng kiến nhu cầu tiếp tục tăng mạnh với sản phẩm liên quan khí tự nhiên và mức độ nhập khẩu chất đốt đạt kỷ lục. Sự phụ thuộc vào nước ngoài còn lan rộng ra toàn bộ nguồn năng lượng bao gồm than đá - nước này trở thành nhà nhập khẩu ròng than đá trong năm 2009. Than chiếm 71% tổng tiêu thụ năng lượng của Trung Quốc trong năm 2009, năm mới nhất với mọi con số thống kê đầy đủ. Con số thiếu 3,5 tỉ tấn cho tiêu dùng trong năm chiếm gần một nửa lượng tiêu dùng than toàn cầu, và gần gấp đôi mức tiêu thụ nội địa vào thời điểm chuyển giao của thế kỷ.
Ngoài một phần trong hàng loạt thỏa thuận năng lượng mà Trung Quốc kí kết với Nga năm 2009 bao gồm hệ thống ống dẫn ESPO, Bắc Kinh đã cho Moscow vay 6 tỉ USD trong một phần thỏa thuận nhập khẩu 15 - 20 triệu tấn than mỗi năm trong giai đoạn kéo dài tới giữa 2030.
Trung Quốc đang tiến hành những bước đề phòng rủi ro địa chính trị. Họ tìm cách khôi phục thỏa thuận đã ký kết với Myanmar năm 2009. Nhưng hệ thống ống dẫn ấy sẽ không mang theo dầu từ Myanmar, nó sẽ là một lộ trình thay thế vận chuyển dầu thô từ châu Phi và Trung Quốc thay đi vì đi qua Eo biển Malacca. Cơ quan Năng lượng Quốc tế vẫn giữ ước tính, tốc độ gia tăng nhu cầu dầu của Trung Quốc từ 2010 - 2012 chiếm hơn 1/3 mức gia tăng nhu cầu toàn cầu.
Bởi vậy, Trung Quốc đang không ngừng nỗ lực phát triển các nguồn năng lượng nội địa trong khi vẫn gia tăng phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài về khí đốt, than đá và dầu mỏ. Tình hình địa - kinh tế đã góp phần làm tăng tầm quan trọng của các nguồn dầu khí tiềm năng trong khu vực, bao gồm cả quần đảo Trường Sa ở Biển Đông - nơi diễn ra tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa Trung Quốc và nhiều nước khác.
* Tiến sĩ Robert M Cutler được đào tạo tại Viện Công nghệ Massachusetts và Đại học Michigan. Ông nghiên cứu và giảng dạy ở nhiều trường đại học tại Mỹ, Canada, Pháp, Thụy Sĩ và Nga. Hiện ông là nhà nghiên cứu cấp cao ở Đại học Carleton, Canada.
Chị cho vào box cho em:
- Trước căng thẳng Biển Đông, Trung Quốc đã cảnh báo các bên tuyên bố chủ quyền khác ngừng mọi hoạt động thăm dò dầu khí ở vùng biển mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền nếu không có sự cho phép của Bắc Kinh. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với hầu hết vùng biển này.
- Trong tháng 5, Tập đoàn Dầu khí Ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC), nhà sản xuất dầu khí ngoài khơi lớn nhất nước này đã đưa ra 19 lô cùng hợp tác khai thác dầu khí ngoài khơi với các công ty nước ngoài trong khu vực Biển Đông. Trong tháng 2, một thông tin do đài truyền hình quốc gia Trung Quốc (CCTV) cho hay, CNOOC có kế hoạch đầu tư 350 tỉ nhân dân tệ (54 tỉ USD) trong 5 năm tới để khai thác tài nguyên dầu và khí tự nhiên. Trong số này, CNOOC dự kiến dùng 20 tỉ nhân dân tệ để khai thác và phát triển dầu khí vùng nước sâu. "Chúng tôi sẽ tiếp tục tập trung vào việc thăm dò và khai thác ở Biển Đông trong tương lai gần", giám đốc điều hành CNOOC Dương Hoa nói trong một cuộc họp báo về chiến lược kinh doanh của công ty năm 2011.
Hôm 24/5, Tân Hoa xã đưa tin, tại Thượng Hải, một giàn khoan dầu khổng lồ hoạt động ở vùng nước sâu 3.000m đã được bàn giao cho CNOOC.
- Biển Đông trải dài từ bờ biển phía tây của Singapore ở Đông Nam Á tới eo biển Đài Loan với diện tích khoảng 3.500.000 km vuông, bao gồm hơn 200 hòn đảo. Đây là một hình thể biển lớn nhất sau năm đại dương. Các đảo ở Biển Đông có số lượng nhiều, tập hợp thành một số quần đảo. Rất nhiều trong số này là các đảo chìm, đảo đá không có người ở. Biển Đông chứa đựng khối lượng đáng kinh ngạc về đa dạng sinh học và tài nguyên biển, bao gồm trữ lượng dầu khí rất lớn, thủy sản và ước tính chiếm 30% các rạn san hô của thế giới.
Tờ Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc ngày 19/4 đã đưa ra một báo cáo đặc biệt về Biển Đông, trong đó mệnh danh vùng biển này là "Vịnh Ba Tư thứ hai". Tờ báo cho biết, Biển Đông chứa đựng hơn 50 tỉ tấn dầu thô và hơn 20 nghìn tỉ mét khối khí. Con số này gấp khoảng 25 lần trữ lượng dầu và 8 lần trữ lượng khí của Trung Quốc đã được chứng minh.
Ngài Lee Kuan Yew phát biểu về Trung Quốc
Ngài Lee Kuan Yew dù đã về hưu vẫn được tin cậy để hỏi ý kiến về Trung Quốc do ông có mối quan hệ khá gần gũi với các lãnh đạo nước này.
Tại diễn đàn "FutureChina Global Forum" hôm thứ Hai, ông đã có ý kiến cho rằng, Trung Quốc nên giữ quan hệ bình đẳng và bền vững với Mỹ trong vòng 20 đến 30 năm tới.
Trung Quốc vẫn có thể đạt được nhiều thứ từ Mỹ vì họ vẫn cần công nghệ, thị trường và bí quyết trong nhiều lĩnh vực. Sự phong phú mà Trung Quốc chưa thể đạt được đã cho nước Mỹ sức mạnh mà Trung Quốc vẫn cần cho tương lai phát triển của họ.
Ông cũng tiên đóan quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và các nước láng giềng châu Á (Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Đông Nam Á) sẽ còn phát triển trong thập kỷ tới. Trung Quốc vẫn là thị trường vô cùng hấp dẫn mà không quốc gia nào có thể bỏ qua. Các quốc gia này sẽ đồng hành cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế 1.3 tỷ con người này. Họ sẽ đầu tư vào đó, trao đổi thương mại với nó và thu hút đầu tư từ nó. Ông cũng nhấn mạnh đó là điều Singapore sẽ làm.
Nói về tương lai của Đông Nam Á, ông nhận thấy các nước trong khu vực sẽ kết hợp với nhau để thương thảo các vấn đề với các thế lực quốc tế khác. Và chỉ có như vậy mới có sức mạnh. Các đàm phán song phương với hoặc Mỹ, hoặc Trung Quốc hay Nhật sẽ trở thành yếu thế hơn rất nhiều.
Tuy nhiên, quá trình xích lại với nhau như vậy sẽ khá chậm do con đường đi của từng
nước trong 10 nước ĐNA rất khác nhau.
Châu Sa (Theo Channel NewsAsia)

-=- Ảnh đẹp -=-

-=- Ảnh đẹp -=-
TKT