Hiển thị các bài đăng có nhãn Biển Đông. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Biển Đông. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2011

NĂM 2028 TRUNG QUỐC SẼ THU HỒI CÁC ĐẢO TẠI BIỂN ĐÔNG


Trung Quốc: Quan điểm quân sự cực đoan liên quan Biển Đông
(Toquoc)-Trung Quốc tiếp tục cho phép báo chí nuôi dưỡng quan điểm cực đoan khá kỳ cục, như việc tiến hành 6 cuộc chiến tranh trong 50 năm tới để thống nhất thiên hạ, trong đó có chiến tranh Biển Đông (2025-2030).
Thời báo Quốc phòng Trung Quốc số ra ngày 27/7 cho rằng “Quyết định sự thắng thua tại Biển Đông chính là nhân tố trong nước”. Nội dung như sau:
Phát huy “đại cát đại lợi”, thực hiện “tiêu hao” đối phương
Tại Biển Đông, Mỹ lợi dụng tranh chấp các đảo để thúc đẩy các nước khác tranh chấp nhằm hưởng lợi. Một trợ lý cao cấp của Obama khi trả lời báo giới bày tỏ những cách làm nêu trên của Mỹ chính là áp dụng chính sách “học thuyết lãnh đạo phía sau” của Tổng thống.
Lão Tử đã từng nói “người có lý lẽ mà đặt vị trí của mình đứng ở phía sau thì sẽ chiến thắng, nếu đặt vị trí của mình ở bên ngoài thì sẽ bảo đảm được tính mạng”. Xem ra, học thuyết mà Obama đề xướng khác rất xa với học thuyết của Lão Tử: Mỹ đặt mình ở phía sau, tuy nhiên lại không phải ở bên ngoài, vẫn cố gắng giữ vị trí lãnh đạo của mình, theo đuổi lợi ích riêng của bản thân, do vậy không thể nói là vô tư được.


Hải quân Trung Quốc tập trận trên Biên Đông
Xét về hiện tượng mà nói, sự lãnh đạo từ phía sau cũng giống như là lùi xe. Nhiều năm trở lại đây, Mỹ đã đơn độc một mình đối phó với hai cuộc chiến tranh Iraq và Afghanistan, Mỹ vẫn còn chút sức lực để “khoa tay múa chân” đối với các công việc của quốc tế. Cùng với việc đạt được những huy hoàng thì Mỹ cũng phải tiêu hao cạn kiệt sức lực. Nợ công của Mỹ khoảng 100% so với thu nhập quốc dân, thâm hụt tài chính lớn hơn 68% so với thu nhập tài chính, tỉ lệ thất nghiệp cao đạt 9,2%.
Nghèo thì tư tưởng sẽ thay đổi. Khi cần thiết, cũng cần phải giấu mình lại, giống như TQ “giấu mình chờ thời, tu tâm dưỡng khí”.
Lãnh thổ của Mỹ rộng lớn, tài nguyên phong phú, không những thế Mỹ còn có hệ thống giáo dục và cơ chế thị trường tốt. Doanh nghiệp Mỹ cũng có sức sáng tạo. Đáng ra, chút khó khăn này không thấm vào đâu, nếu làm theo cách nêu trên, không cần đến 10 năm, Mỹ sẽ thoát được khó khăn để bước vào quỹ đạo phát triển lành mạnh.
Tuy nhiên, sự tham lam muốn lãnh đạo thế giới làm cho Mỹ “biết tiến không biết lùi”, vẫn muốn lãnh đạo từ phía sau, đã khó khăn lại còn “cương”, vẫn tham gia vào tất cả các công việc tại mọi nơi trên thế giới, Đài Loan, Biển Đông, Trung Đông v.v… tất cả đều cho rằng thuộc lợi ích quốc gia của Mỹ.
Tình hình Biển Đông hiện nay đối với TQ là “đại cát đại lợi”. Điều then chốt là vận dụng tốt một từ, đó là “tiêu hao”. Tức là “lấy tĩnh chế động”, vừa có thể làm tiêu hao tài nguyên, nhân lực, sự nhẫn nại của đối phương, trong quá trình đó sẽ làm lớn mạnh bản thân, không chiến mà lại có thể khuất phục người khác.
Biển Đông từ trước đến nay là lãnh thổ của Trung Quốc(!), bảo vệ chủ quyền là hành động chính nghĩa. Chính nghĩa chính là xu hướng của ý dân, không thể thay đổi được. Đây chính là căn bản của việc chiến thắng tranh chấp. Còn đối với đối phương, hoặc có tranh quyền xưng bá, hoặc là tranh tài nguyên, lời nói không thể thay đổi được sự thật lịch sử. Trung Quốc cần kiên trì chủ quyền thuộc ta, cùng khai thác, có lợi thì cùng lợi còn nếu không thì ngược lại. Đồng thời, cần mang một lượng tài nguyên vừa phải sang sử dụng tại Đông Nam Á. Cùng kết hợp sử dụng hợp tác ngoại giao với thương mại.
Sức mạnh quân sự của Trung Quốc, đặc biệt là năng lực hải, không quân so với quy mô và xu thế phát triển kinh tế của Trung Quốc là lạc hậu nghiêm trọng. Còn các tàu quân sự của Mỹ liên tục qua lại khu vực biển gần Trung Quốc, liên tục cùng các nước xung quanh tiến hành tập trận. Điều này khiến Trung Quốc buộc phải tăng cường hiện đại hóa quân sự. Về phương diện này, điều Trung Quốc thiếu không phải là tiền, cũng không phải là sức người, mà là sự cấp bách cũng như động lực. Ngoài ra, việc bỏ tiền trong lĩnh vực này không phải là điều đáng lo, bởi vì kiểu gì thì cũng phải làm việc này. Các nước khác nếu không thức thời, muốn chạy đua vũ trang với Trung Quốc thì xin mời tự nhiên. Mỹ muốn tăng thêm lực lượng quân sự tại Biển Đông thì Mỹ hãy nêu yêu cầu với Quốc hội Mỹ. Tình hình Biển Đông vì vậy mà không có tiến triển, cứ dậm chân tại chỗ bản thân chính là tiêu hao. Tiêu hao càng nhiều, khi xảy ra tranh chấp càng không có cách giải quyết. Ngược lại, khi đó lại có lợi cho việc hòa bình giải quyết tranh chấp, muốn không để cho Trung Quốc tiêu hao, cần phải ngừng việc thị uy với Trung Quốc.
Tàu hải giám cần phải đi Biển Đông, mỗi một lần đều cần phải sẵn sàng chờ địch. Bất kỳ nước nào, cho dù nước đó có nhỏ như thế nào, tàu quân sự cũ như thế nào thì cũng không thể lấy nhỏ bắt nạt lớn. Có gan dám nổ súng vào tàu quân sự của Trung Quốc, sau khi phản công lại, hãy để cho nước đó trở về và suy nghĩ lại. Có những việc Trung Quốc cần phải nhẫn nhịn, những việc không cần nhịn thì không thể tự biên tự chế ra chuyện để dọa bản thân. Biển Đông không thể xảy ra đánh nhau được. Tuy nhiên, có bao nhiêu là tàu quân sự chen chúc tại đây, việc vô tình nổ súng là việc sớm hay muộn mà thôi.
Nhân tố căn bản của việc thắng thua tại Biển Đông không nằm ở Biển Đông mà nằm ở trong nước Trung Quốc. Chỉ cần Trung Quốc có thể xử lý các mâu thuẫn trong nước, thì trong vòng 10 năm tới, Trung Quốc tăng trưởng kinh tế với tốc độ 8 - 9%. Nếu như vậy, Trung Quốc có thể tiêu hao được, không những thế kinh tế Trung Quốc tăng trưởng có thể tạo ra sức sống, có thể khiến thái độ của một số người mềm đi. Khi đó, Trung Quốc bị ép phải tăng cường hiện đại hóa quân sự, năng lực tự vệ tăng lên, quy mô kinh tế lớn hơn, lập trường tranh chấp tại Biển Đông không có sự thay đổi, vẫn là “chủ quyền thuộc ta, hợp tác khai thác”.
Nhật báo Tin tức Bắc Kinh trích lại phát biểu ngày 29/7 của tướng La Viện, thuộc Viện Khoa học Quân sự Trung Quốc rằng: “Nếu nhìn vào các nước láng giềng của chúng ta, Ấn Độ từ nay đến năm 2014 sẽ có 3 tàu sân bay, Nhật Bản đến năm 2014 cũng sẽ có 3 chiến hạm tương đương với tàu sân bay, vậy thì tôi cho rằng Trung Quốc phải có tối thiểu 3 chiếc tàu sân bay nếu chúng ta muốn bảo vệ quyền và lợi ích hàng hải của mình một cách hiệu quả”.
Là 1/6 cuộc chiến tranh Trung Quốc tiến hành 50 năm tới
Báo Tin tức Trung Quốc gần đây đăng bài “Sáu cuộc chiến tranh trong 50 năm tới của Trung Quốc” (không đề tên tác giả):
Cuộc chiến tranh thứ nhất : Thống nhất Đài Loan (giai đoạn 2020 - 2025)
Mặc dù, quan hệ hai bờ hiện nay đang có xu hướng đi vào hòa hoãn, nhưng đừng hy vọng nhà đương cục Đài Loan muốn thống nhất hòa bình với Trung Quốc đại lục. Cho nên trong 10 năm tới, tức trước năm 2020, Trung Quốc cần phải nắm cho được phương châm chiến lược thống nhất, tuyên bố trước Đài Loan về thời hạn cuối cùng để thống nhất đất nước là năm 2025, hoặc là Đài Loan chấp nhận thống nhất hòa bình,, hoặc là phải sử dụng vũ lực để thống nhất. Khi thời điểm đến, cho dù là sử dụng phương thức thống nhất như thế nào, Trung Quốc vẫn nhất định phải thống nhất, đây là một sứ mệnh lịch sử của dân tộc Hoa Hạ.
Trong cuộc chiến này, Trung Quốc có thể dễ dàng giành chiến thắng, nhưng cũng có thể sẽ gian nan giành chiến thắng. Tình hình này phụ thuộc vào quyết định tham chiến của Mỹ, Nhật Bản đối với Đài Loan. Mỹ, Nhật Bản viện trợ cho Đài Loan, thậm chí xuất quân phản công Đại lục, Trung Quốc buộc phải sử dụng tổng lực để đối kháng Mỹ, Nhật Bản, như vậy sẽ trở thành cuộc đại chiến gian khổ và kéo dài. Nếu Mỹ, Nhật Bản không dám đối kháng với Trung Quốc, để Trung Quốc đại lục thu hồi Đài Loan, quân đội Đài Loan đương nhiên không thể chống đỡ, nhiều nhất là 3 tháng là có thể kiểm soát hoàn toàn Đài Loan.
Mặc dù hiện nay ai cũng cho là Trung Quốc có đủ khả năng chống lại các thế lực can thiệp, nhưng trước khi thu hồi Đài Loan, tốt nhất là tiến hành bố trí thế cục, để Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không dám tham chiến, như vậy Trung Quốc mới có thể thần tốc đánh chiếm Đài Loan. Tốt nhất là gây ra một, hoặc hai cuộc chiến tranh trước đó, ví dụ như chiến tranh Ixraen-Iran, chiến tranh Nga-Nhật, chiến tranh Ấn Độ-Pakixtan, hay đối đầu giữa hai miền Triều Tiên, như vậy Mỹ, Nhật Bản khó có thể kịp thời hoặc không dám tham chiến.
Đương nhiên, cho dù Mỹ, Nhật Bản có tham chiến hay không, cuối cùng Trung Quốc đều giành chiến thắng, đây là điều không phải nghi ngờ. Nhưng khác biệt ở chỗ, nếu Mỹ, Nhật Bản tham chiến, nguyên khí kinh tế của Trung Quốc sẽ bị tổn thương nặng nề; nếu Mỹ, Nhật Bản không kịp hoặc không tham chiến, kinh tế của Trung Quốc sẽ không bị tổn thất.
Điểm có lợi nhất của cuộc chiến thống nhất Đài Loan là Trung Quốc đã phá vỡ chuỗi đảo bao vây thứ nhất của Mỹ, để hướng ra Thái Bình Dương, như vậy Trung Quốc từ đó có thể tiến quân ra đại dương, mở rộng lợi ích thiết thân của Trung Quốc.


Trung Quốc cho rằng Mỹ cắt giảm chi tiêu quốc phòng sẽ bị suy yếu và khó lòng phát huy vai trò ở châu Á-Thái Bình Dương
Cuộc chiến tranh thứ hai : Thu hồi các đảo tại Biển Đông (giai đoạn 2025-2030)
Sau khi Trung Quốc thống nhất Đài Loan, nghỉ ngơi chỉnh đốn nhiều nhất là 2 năm, trong khoảng thời gian này Trung Quốc tuyên bố với các nước có tranh chấp tại Biển Đông về thời hạn cuối cùng Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để thu hồi các đảo là năm 2028, tất cả các nước xâm chiếm đảo của Trung Quốc tại Biển Đông có thể đàm phán với Trung Quốc trong khoảng thời gian này, hoàn trả các đảo xâm chiếm cho Trung Quốc. Trung Quốc sẽ xuất phát từ quan điểm láng giềng hữu nghị và phong cách nước lớn, Trung Quốc còn có thể bảo đảm một phần lợi ích kinh tế của các nước xung quanh đã đầu tư vào các đảo ở Biển Đông, nếu không Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực để thu hồi các đảo, đồng thời tịch thu toàn bộ lợi ích kinh tế, cũng như các khoản đầu tư trên các đảo này.
Cuộc chiến tranh thứ ba: Thu hồi Nam Tây Tạng (giai đoạn 2035-2040)
Hai mươi năm sau, mặc dù thực lực quân sự của Ấn Độ không bằng Trung Quốc, nhưng khi đó cũng sẽ là một trong số không nhiều nước lớn trên thế giới, vì vậy “đá chọi với đá” chắc chắn sẽ chịu nhiều tổn thất, cho nên tác giả cho rằng tốt nhất là ngay từ bây giờ Trung Quốc phải tìm mọi cách khiến Ấn Độ bị chia cắt thành mấy nước nhỏ, để Ấn Độ không còn sức đối kháng với Trung Quốc, tuy nhiên sách lược chia cắt Ấn Độ không chắc chắn thực hiện được, nhưng ở mức độ thấp nhất cũng phải làm cho bang Assam tiếp giáp với Nam Tây Tạng (Ấn Độ gọi là bang Arunachal Pradesh) và Sikkim, làm suy yếu thực lực của Ấn Độ trong đối kháng với Trung Quốc, như vậy mới là thượng sách.
Trung sách là chuyển một lượng lớn vũ khí quân sự tiên tiến sang Pakixtan, trong khoảng thời gian năm 2035, ngầm giúp Pakixtan tấn công khu vực phía Nam Casơmia của Ấn Độ, giúp đỡ Pakixtan hoàn thành đại nghiệp thống nhất lãnh thổ. Tất nhiên, trong khi Ấn Độ và Pakixtan chưa thể kết thúc chiến tranh, Trung Quốc thần tốc tấn công Ấn Độ thu hồi khu vực Nam Tây Tạng bị chiếm đóng. Ấn Độ sẽ không thể cùng lúc tác chiến với hai cuộc chiến tranh, kết cục đều gặp thất bại, như vậy Trung Quốc có thể dễ dàng lấy lại khu vực Nam Tây Tạng, Pakixtan cũng có thể hoàn thành việc kiểm soát hoàn toàn Casơmia.
Sau khi thống nhất Đài Loan và thu hồi các đảo tại Biển Đông, kỹ thuật quân sự của Trung Quốc đã có bước phát triển nhạy vọt, các trang thiết bị vũ khí hải, lục, không quân và vũ trụ đều có bước tiến dài, nhiều kỹ thuật quân sự ở vào trình độ dẫn đầu thế giới, khi đó sức mạnh quân sự của Trung Quốc chỉ có thể xếp sau Mỹ. Với thực lực như vậy, trong cuộc chiến thu hồi Nam Tây Tạng, Ấn Độ chắc chắn chịu một cuộc đại bại. Ấn Độ không thể duy trì chiến tranh lâu dài, trong khi đó khả năng chiến tranh thần tốc của Ấn Độ lại kém xa so với Trung Quốc, vì vậy trong cuộc chiến này, Ấn Độ thất bại là điều không phải nghi ngờ. Trong cuộc chiến này, tuyệt đối không có quốc gia nào dám công khai giúp đỡ Ấn Độ. Nhiều khả năng nhất chỉ có 3 nước là Mỹ, Nga, Nhật Bản sẽ ngấm ngầm cung cấp vũ khí cho Ấn Độ, nhưng động thái này sẽ không gây ra những vấn đề lớn. Ấn Độ không dám và không thể sử dụng vũ khí hạt nhân. Mặc dù nói Ấn Độ đã có vũ khí hạt nhân, nhưng trong cuộc chiến này, Ấn Độ không dám sử dụng vũ khí hạt nhân, vì vũ khí hạt nhân của Ấn Độ không đủ để huỷ diệt Trung Quốc; đã không thể huỷ diệt, một khi sử dụng, khả năng phản kích của Trung Quốc có thể huỷ diệt vĩnh viễn Ấn Độ. Sau khi thu hồi Nam Tây Tạng, Trung Quốc sẽ đóng trọng binh tại đây.
Cuộc chiến tranh thứ tư : Thu hồi đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu (giai đoạn 2040 - 2045)
Thời điểm đến giữa thế kỷ 21, Trung Quốc đã là cường quốc thế giới thật sự, khi đó Nhật Bản, Nga suy yếu; Mỹ, Ấn Độ không phát triển, Trung Quốc và châu Âu đồng thời nổi lên, là thời cơ tốt nhất để Trung Quốc thu hồi đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu.
Nhiều nhất là trong vòng nửa năm, cuộc chiến có thể kết thúc, Trung Quốc đại thắng, Nhật Bản đành phải thừa nhận kết cục thất bại - đảo Điếu Ngư và Lưu Cầu trở về vô điều kiện với Trung Quốc. Đông Hải trở thành nội hải của Trung Quốc.
Cuộc chiến tranh thứ năm : Thống nhất Ngoại Mông (giai đoạn 2045 - 2050)
Mặc dù, hiện nay có người cổ vũ Ngoại Mông (Mông Cổ) trở về Trung Quốc, nhưng điều này có hiện thực không? Trung Quốc cần đề xuất đại cương thống nhất với Ngoại Mông, tạo dựng bầu không khí dư luận xã hội Ngoại Mông trở về Trung Quốc, đồng thời tìm kiếm những tộc người tại Ngoại Mông có mong muốn sáp nhập vào Trung Quốc để ra sức giúp đỡ, cố gắng để họ có thể tiếp cận tới tầng lớp có quyền quyết sách, nhằm chuẩn bị tốt cho sự nghiệp thống nhất Ngoại Mông. Bên cạnh đó, sau khi thu hồi Nam Tây Tạng, Trung Quốc cũng phải tuyên bố với các nước trên thế giới rằng Ngoại Mông là lợi ích cốt lõi của Trung Quốc (!).
Nếu thế lực bên ngoài can dự hoặc Ngoại Mông cự tuyệt thống nhất, Trung Quốc cần phải làm tốt mọi sự chuẩn bị về trang bị vũ khí nhằm thống nhất Ngoại Mông. Tài liệu cho rằng Trung Quốc vẫn có thể áp dụng mô hình như đã thống nhất Đài Loan, đưa ra thời hạn cuối cùng để thống nhất là vào năm 2045, để Ngoại Mông có thời gian mấy năm suy nghĩ, khi đến thời điểm nếu không chủ động chấp nhận trở về, cuối cùng mới sử dụng vũ lực thống nhất.
Cuộc chiến tranh thứ sáu : Thu hồi lãnh thổ bị Nga xâm chiếm (giai đoạn 2055 - 2060)
Hiện nay, Trung-Nga được coi là láng giềng hữu nghị, song chẳng qua là vì có cùng mục tiêu chống Mỹ, thực chất vẫn tồn tại sóng ngầm và cảnh giác lẫn nhau. Sau khi giành thắng lợi trong 5 cuộc chiến tranh trước đó (khoảng năm 2050), Trung Quốc phải lên tiếng đòi Nga phải trả lại lãnh thổ đã xâm chiếm của Trung Quốc từ đời nhà Thanh, tạo dư luận trên toàn thế giới có lợi cho Trung Quốc, nhưng tốt nhất là khiến Nga một lần nữa bị giải thể, tách thành nhiều nước nhỏ.
Trước đây, Nga đã xâm chiếm tổng cộng khoảng 1,6 triệu km2 lãnh thổ của Trung Quốc, tương đương 1/6 tổng diện tích lãnh thổ lục địa của Trung Quốc hiện nay, Nga vẫn là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Trung Hoa, cho nên sau khi kết thúc 5 cuộc chiến tranh trước, sẽ là thời điểm thích hợp để lấy lại lãnh thổ bị Nga xâm chiếm từ đời Thanh.
Mặc dù thời điểm này các phương diện về hải, lục, không quân và vũ trụ của Trung Quốc đã vượt Nga, nhưng rõ ràng đây là một cuộc chiến tranh nhằm vào một cường quốc hạt nhân, cho nên lúc đó Trung Quốc phải huy động mọi khả năng hạt nhân, như các loại vũ khí có khả năng đánh chặn hạt nhân tầm xa, tầm trung và tầm ngắn. Khả năng Nga đánh trả khi tiếp cận Trung Quốc là không thể, vì vào thời điểm này Nga đã không còn là đối thủ của Trung Quốc, chỉ có thể chấp nhận trả lại phần lãnh thổ đã xâm chiếm của Trung Quốc, nếu không cái giá phải trả là quá đắt.
Sau khi kết thúc 6 cuộc chiến tranh, Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế và quân sự duy nhất trên thế giới, Trung Quốc cùng với châu Âu, Mỹ, Nga, Ấn Độ, Nhật Bản, châu Phi và Brazil thiết lập trật tự thế giới mới do Trung Quốc chủ đạo./.
QT (Theo các báo TQ)

Thứ Sáu, 5 tháng 8, 2011

Báo Trung Quốc 'dọa' Philippines

Một tờ báo Trung Quốc hôm nay cảnh báo Philippines về việc tăng cường hiện diện quân sự ở Biển Đông, giữa lúc căng thẳng hai nước lên cao.

Tàu chiến lớn nhất mà Philippines vừa mua để tuần tra trên Biển Đông. Ảnh: US Coast Guard.
Tàu chiến lớn nhất mà Philippines vừa mua để tuần tra trên Biển Đông. Ảnh: US Coast Guard.
China Daily đăng một bài xã luận với giọng gay gắt, nói rằng Manila xâm phạm "toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc", đồng thời cảnh báo Philippines có thể phải trả "giá đắt" nếu đánh giá sai tình hình. Bài xã luận cũng cáo buộc Philippines không coi trọng một thỏa thuận mà Bắc Kinh và hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á vừa đạt được ở Indonesia tháng trước nhằm giải quyết mâu thuẫn trên biển một cách hòa bình.
"Những việc mà Manila làm không chỉ vi phạm toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc mà còn đi ngược lại lập trường của ASEAN cũng như tinh thần của văn bản hướng dẫn" thực thi Tuyên bố về Ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC). "Philippines sẽ phải trả giá đắt nếu tính toán sai" về vấn đề Biển Đông, Inquirer dẫn bài xã luận trên China Daily cho biết.
Bài xã luận được đưa ra sau khi tờ Philippine Star đưa tin hải quân Philippines sẽ sớm hoàn thành một nơi trú ẩn để "bảo vệ các binh sĩ đang canh gác và bảo vệ chủ quyền đất nước" trên một hòn đảo ở Trường Sa mà cả hai nước đều tuyên bố sở hữu.
Khối kiến trúc giống vỏ sò mà hải quân Philippines bắt đầu khởi công từ hồi tháng 5 hiện diện trên đảo mà Philippines gọi là Patag, Trung Quốc gọi là Feixin và Việt Nam gọi là Bình Nguyên. Nó thuộc quần đảo Trường Sa do Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Các bên khác cũng đưa ra tuyên bố gồm Trung Quốc và Philippines.
Căng thẳng về chủ quyền biển đảo lên cao trong năm nay khi Việt Nam và Philippines tố cáo Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng tại đây. Manila cáo buộc lực lượng Trung Quốc quấy nhiễu tàu khai thác dầu và bắn ngư dân của họ. Trong tháng 5, tàu Trung Quốc cũng hai lần cắt cáp tàu thăm dò địa chấn của Việt Nam ở khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Mai Trang

Bộ Ngoại Giao Việt Nam vẫn chưa có động thái gì trước hành động của Philippines .

Hàn Quốc nói về tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc

Các vùng biển và đại dương nên là tài sản của nhân loại, không chỉ thuộc về một hay một vài siêu cường nào - báo Korea Times của Hàn Quốc đăng bài bình luận của hai nhà nghiên cứu Choi Yearn-hong và Koh Choong-suk về tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc.
Trung Quốc giải thích việc xâm nhập vào vùng chủ quyền của nước khác ở Biển Đông và Hoa Đông bằng cách sử dụng những lý do địa lý và lịch sử của những chuyến hành trình cổ xưa tới các vùng biển xa.
Nước này có tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông với Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei. Thời gian gần đây, Trung Quốc bị cáo buộc có những hành động khiêu khích trong khu vực.
Ảnh: Getty Images
Trung Quốc cũng đụng chạm với Nhật Bản ở biển Hoa Đông xung quanh việc thăm dò dầu, khí tự nhiên và các tài nguyên khoáng sản quanh quần đảo Senkaku. Gần đây nhất, Trung Quốc thậm chí can thiệp vào hoạt động cứu hộ mà Hàn Quốc tiến hành với một tàu vận chuyển than bị chìm ở khu vực đường trung tuyến trên vùng biển của Hàn.
Biển Hoa Đông và Biển Đông không phải là các đại dương, mà là vùng biển hẹp có sự chia sẻ bởi nhiều quốc gia láng giềng. Trung Quốc không thể tuyên bố chủ quyền với khu vực 200 hải lý như các vùng đặc quyền kinh tế hay phía ngoài thềm lục địa của mình ở các vùng biển này. Nghe có vẻ vô lý hoặc đế quốc.
Tòa án quốc tế từng sử dụng lý thuyết thềm lục địa để giải quyết tranh chấp giữa Đức - Đan Mạch và Hà Lan ở Biển Bắc, và Trung Quốc đang sử dụng quyết định của tòa án này như một tiền lệ. Kể từ khi phán quyết được đưa ra, phần lớn các tranh chấp biên giới hàng hải được giải quyết bằng lý thuyết đường trung tuyến giữa hai quốc gia ven biển. Chính sách đường trung tuyến có thể khiến các quốc gia tuân thủ một cách mạnh mẽ, giản đơn và dễ dàng.
Trung Quốc và Hàn Quốc đã không giải quyết được đường biên giới hàng hải trên biển giữa hai quốc gia. Điều này không nên là cái cớ để Trung Quốc can thiệp một cách tùy tiện vào nỗ lực cứu hộ tàu chìm của Hàn Quốc. Trung Quốc đã từng làm một điều vô lý tương tự khi Hàn Quốc xây dựng tháp nghiên cứu đại dương ở đảo đá ngầm Leodo. Người phương Tây đặt tên đảo này là Socotra Rock vào năm 1900. Đảo nằm trong phạm vi đường trung tuyến của Hàn Quốc.
Trung Quốc đang khiêu khích các quốc gia láng giềng ở vùng biển hòa bình. Vào cuối tháng 5 và giữa tháng 6 vừa qua, Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ việc Trung Quốc hai lần cắt cáp tàu thăm dò khi các tàu này hoạt động trong phạm vi chủ quyền của Việt Nam.
Trung Quốc tự mình đưa ra tuyên bố chủ quyền với toàn bộ Biển Đông, bằng cách dẫn dắt những bản đồ cổ xưa với phía nam kéo dài tới tận bờ biển phía bắc của Malaysia. Việt Nam, Philippines, Brunei và Malaysia đều có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.
Sự ngờ vực và nỗi quan ngại của châu Á về Trung Quốc là dựa trên các tham vọng lãnh thổ mà nước này đưa ra mà giờ đây là việc theo đuổi nhiều hơn các nguồn tài nguyên dưới biển.
Tham vọng của Trung Quốc cần được cân bằng bởi nước Mỹ như một đối tác của các nước châu Á - Thái Bình Dương và bởi một liên minh châu Á thống nhất được trang bị công lý và công bằng trong cộng đồng quốc tế.
Thế giới nhìn vào cách hành xử của Trung Quốc, và cần chú ý tới tuyên bố của Trung Quốc về vùng đặc quyền kinh tế của họ là “vùng cấm” với hải quân nước ngoài. Đã tới lúc xem xét lại các quyền về vùng đặc quyền kinh tế và ranh giới ngoài thềm lục địa. Các vùng biển và đại dương nên là tài sản của nhân loại, không chỉ thuộc về một hay một vài siêu cường nào.
Điều tốt nhất có thể chấp thuận được về phân định ranh giới hàng hải nên là một đường trung tuyến ở các vùng biển hẹp và nhỏ giữa các quốc gia ven biển.
Thái An (theo Korea Times)

Việt -Trung đàm phán về Biển Đông


Đảo Trường Sa lớn (ảnh của Đỗ Hùng, báo Thanh Niên)
Việt Nam và Trung Quốc đã có nhiều vòng đàm phán về Biển Đông
Việt Nam và Trung Quốc vừa thực hiện vòng đàm phán cấp chuyên viên lần thứ 7 về các vấn đề trên biển giữa hai bên.
Bộ Ngoại giao Việt Nam cho hay vòng đàm phán về Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc đã diễn ra từ ngày 29/07-01/08 tại Hà Nội.
Đây là sự tiếp nối của "hiểu biết chung" mà Trung Quốc và Việt Nam đưa ra trong chuyến thăm Bắc Kinh hồi cuối tháng Sáu của Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn.
Trong các tiếp xúc hôm 25/06 giữa ông Sơn, Đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc, cũng như với người đồng nhiệm Trương Chí Quân, hai bên được nói đã thống nhất "đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết "Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc"; thúc đẩy việc thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và các công việc tiếp theo, cố gắng sớm đạt tiến triển thực chất."
Hai bên cũng đã đồng ý "giải quyết hòa bình các bất đồng trên biển" và "tăng cường định hướng đúng đắn dư luận, tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước".
Sự thiếu thông tin và giải thích minh bạch về nội dung chuyến thăm của Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn đã gây bức xúc trong một bộ phận người dân trong nước.
Thông báo của Bộ Ngoại giao hôm thứ Tư 03/08 cũng không đưa ra chi tiết đột phá gì trong vòng đàm phán thứ 7 này so với những gì đã nói ở trên.

Giải quyết bất đồng một cách hòa bình

Bộ Ngoại giao Việt Nam nói qua bảy vòng đàm phán, "hai bên đã sơ bộ nhất trí với nhau về một số nguyên tắc".
Đó là: Các tranh chấp ở Biển Đông cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982;
Trong quá trình giải quyết tranh chấp, cần nghiêm chỉnh thực hiện “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), không tiến hành bất cứ hành động nào nhằm mở rộng, phức tạp hóa tranh chấp, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực;
Những vấn đề chỉ liên quan đến Việt Nam và Trung Quốc thì giải quyết song phương, những vấn đề liên quan đến các bên khác thì cần trao đổi giữa các bên liên quan.
Các nguyên tắc trên phần lớn đều đã được thống nhất từ lâu và không có gì mới, ngoại trừ nay một câu hỏi có thể đặt ra là vấn đề như thế nào thì chỉ liên quan tới Việt Nam và Trung Quốc, vấn đề nào thì liên quan các quốc gia khác?
Trung Quốc từ xưa tới nay luôn chỉ chủ trương đàm phán song phương và các tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông luôn bị Bắc Kinh 'xé lẻ' để biến thành vấn đề song phương.
Trong năm 2010, Việt Nam và Trung Quốc đã có 5 vòng đàm phán về các vấn đề trên Biển Đông.
Bộ Ngoại giao Việt Nam cho hay "hai bên thỏa thuận sẽ tổ chức vòng đàm phán tiếp theo trong năm nay. Thời gian cụ thể sẽ thỏa thuận qua đường ngoại giao".

Thứ Năm, 4 tháng 8, 2011

“Nóng” trở lại trên biển Đông


TT - Căng thẳng trên biển Đông có nguy cơ bùng phát trở lại khi các công ty dầu khí Philippines và Trung Quốc tuyên bố sẽ thăm dò, khai thác dầu thô trên vùng biển tranh chấp này.
Khu vực khai thác dầu của CNOOC (Trung Quốc) trên một phần biển Đông   - Ảnh: www.wantchinatimes.com
Báo Philippines Star cho biết Thứ trưởng năng lượng Philippines Jose Layug vừa tuyên bố Manila đã có kế hoạch đấu thầu thăm dò và khai thác dầu trên vùng biển phía tây đảo Palawan. “Đây không phải là vùng tranh chấp. Nó nằm trong lãnh hải của Philippines” - ông Layug khẳng định và cho biết khu vực thăm dò cách xa quần đảo Trường Sa của Việt Nam và nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.
Ông Layug cho biết Tập đoàn Khai thác dầu khí ngoài khơi quốc gia Trung Quốc (CNOOC) cùng hai công ty dầu khí khác của Trung Quốc cũng quan tâm đến việc thăm dò, khai thác ở khu vực này. Manila sẽ công bố các công ty thắng thầu vào năm tới, và ông hi vọng Trung Quốc sẽ không quấy rối các tàu thăm dò dầu khí của Philippines ở khu vực này.
Philippines thăm dò, khai thác ở bãi Cỏ Rong
Theo báo Manila Standard Today, Tập đoàn năng lượng Philex Mining Corp của Philippines mới đây tuyên bố từ năm tới sẽ khoan ít nhất hai giếng dầu và bắt đầu thăm dò ở khu vực Reed Bank (tức bãi Cỏ Rong thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, hiện đang do Philippines chiếm đóng), nơi mà trước đó tàu Trung Quốc từng vài lần gây hấn với tàu Philippines.
Philex có kế hoạch đầu tư 86 triệu USD trong hai năm 2012 và 2013. “Cần phải có thêm nhiều hoạt động thăm dò ở khu vực này (bãi Cỏ Rong) - chủ tịch Philex Manuel Pangilinan tuyên bố - Đương nhiên đây là một vấn đề chính trị. Chúng tôi hi vọng các bên đòi chủ quyền sẽ cho phép chúng tôi thăm dò”.
Trung Quốc cũng đòi “chủ quyền” ở Reed Bank và từng lên tiếng phản đối việc thăm dò dầu khí ở khu vực này. Đến nay, Bắc Kinh vẫn chưa có phản ứng gì đối với kế hoạch của Philex. Tuy nhiên, hôm 2-8 tờ Nhân Dân Nhật Báo đã lên tiếng cáo buộc Philippines “không chân thành” trong nỗ lực giải quyết các tranh chấp lãnh thổ. Việc Philippines đề xuất các quốc gia Đông Nam Á đòi chủ quyền ở biển Đông cùng hợp tác để biến biển Đông thành khu vực hòa bình, hữu nghị, hợp tác... chỉ là “trò lừa đảo”. Trung Quốc “sẽ không đứng nhìn” trước việc quân đội Philippines thực hiện các hoạt động xây dựng trên một đảo tranh chấp. “Bất cứ quốc gia nào đánh giá sai lầm về chiến lược trong vấn đề này chắc chắn sẽ lãnh hậu quả nghiêm trọng” - Nhân Dân Nhật Báo lớn giọng cảnh báo.
Trung Quốc đẩy mạnh thăm dò dầu khí
Dù phản đối các nước khác, Trung Quốc lại rất tích cực thăm dò dầu khí ở biển Đông. Tân Hoa xã ngày 2-8 cho biết Trung Quốc đã thăm dò địa chất ở khu vực từ quần đảo Hoàng Sa đến Trường Sa trong thời gian từ ngày 13 đến 31-7. Trung tâm Nghiên cứu địa chất Trung Quốc (CGS) cho biết hoạt động này nhằm thiết lập hồ sơ thăm dò địa chất một cách có hệ thống trong đường địa chất dài 1.000km ở khu vực này.
Trong khi đó, CNOOC cũng đang lao vào các cuộc thăm dò trên biển Đông. CNOOC đã đầu tư giàn khoan “Dầu khí đại dương 981” với khả năng hoạt động dưới vùng nước sâu 3.000m, bởi các giàn khoan hiện tại của Trung Quốc chỉ hoạt động ở mức từ 10-300m ngoài khơi. Trung Quốc tuyên bố sẽ điều giàn khoan này đến vùng nước sâu trên biển Đông.
Tân Hoa xã cho biết trước đó giám đốc điều hành CNOOC Dương Hoa đã khẳng định CNOOC sẽ khoan 4-6 giếng khai thác trong năm 2011 và sẽ đẩy nhanh tiến độ khai thác thăm dò. Với giàn khoan “Dầu khí đại dương 981” được thiết kế chịu được bão có cường độ mạnh, CNOOC và các tập đoàn năng lượng của Trung Quốc có thể dễ dàng đưa tàu thăm dò địa chất cũng như các tàu xây dựng hạ tầng xuống các vùng nước sâu ở biển Đông. CNOOC cho biết sẽ xử lý các vấn đề khai thác dầu khí “theo quan điểm của chính quyền Trung Quốc”.
Với cục diện này, một lần nữa biển Đông sẽ không khỏi đứng trước nguy cơ trở nên nóng bỏng trong thời gian tới.
SƠN HÀ - MỸ LOAN
Tranh chấp cần được giải quyết hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế
Ngày 3-8, trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến đàm phán vòng 7 cấp chuyên viên về thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga cho biết:
“Từ ngày 29-7 đến 1-8, tại Hà Nội đã diễn ra đàm phán vòng 7 cấp chuyên viên về thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc. Qua bảy vòng đàm phán, hai bên đã sơ bộ nhất trí với nhau về một số nguyên tắc như: các tranh chấp ở biển Đông cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về luật biển năm 1982; trong quá trình giải quyết tranh chấp, cần nghiêm chỉnh thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC), không tiến hành bất cứ hành động nào nhằm mở rộng, phức tạp hóa tranh chấp, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; những vấn đề chỉ liên quan đến Việt Nam và Trung Quốc thì giải quyết song phương, những vấn đề liên quan đến các bên khác thì cần trao đổi giữa các bên liên quan.
Hai bên thỏa thuận sẽ tổ chức vòng đàm phán tiếp theo trong năm nay. Thời gian cụ thể sẽ thỏa thuận qua đường ngoại giao”.
Theo TTXVN

Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

Học giả Trung Quốc nói từ 1954 -1975 Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Quốc

Học giả Trung Quốc nói từ 1954 -1975 Chính phủ Việt Nam đã 'nhiều lần' công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong bài viết tựa đề 'Vẫn còn tranh cãi' (Still Arguing) đăng trên Bắc Kinh Tuần báo số mới nhất, tác giả Lý Kim Minh, giáo sư Học viện Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Đại học Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, nêu ra ba tài liệu chứng thực cho điều này.
Khi phản biện lại tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, giáo sư Lý viết: "Từ 1954 tới 1975, Chính phủ Việt Nam đã công nhận hai quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) là lãnh thổ Trung Quốc trong nhiều trường hợp".
"Thí dụ, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng trong công hàm ngoại giao gửi tới Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ngày 14/09/1958 đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo nói trên."
Ông Lý nói sự công nhận này được khẳng định thêm trong tấm bản đồ thế giới mà Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1960.
"Trên bản đồ này, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) được đánh dấu là lãnh thổ Trung Quốc."
"Sau đó vào năm 1972, Cục Bản đồ của Việt Nam cũng xuất bản tấm bản đồ, trong đó quần đảo Nam Sa được chú thích bằng tiếng Hoa, chứ không phải bằng tiếng Việt, tiếng Anh hay tiếng Pháp."
Dư luận Việt Nam lâu nay đã ít nhiều biết tới Công hàm ngoại giao 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, với một số nguồn chính thống chỉ trích Trung Quốc xuyên tạc nội dung bức điện mà ông Đồng gửi cho người tương nhiệm Trung Quốc lúc đó.
Tuy nhiên, các chi tiết về hai tấm bản đồ năm 1960 và 1972 dường như xưa nay chưa thấy ai nói tới.

Chủ quyền lịch sử

Hôm 20/07, lần đầu tiên một tờ báo của Việt Nam là tờ Đại Đoàn Kết đã đưa ra giải thích về nội dung bức công hàm gây tranh cãi của ông Phạm Văn Đồng.
Tờ báo này nói rằng việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14/09/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là "hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó".
"Về thực chất, công hàm 1958 chỉ là sự thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc mà thôi."
Nhóm phóng viên viết bài cũng nhận định: "Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc".
Ngược lại, bài viết của tác giả Lý Kim Minh trên Bắc Kinh tuần báo thì đả kích lý luận chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với hai quần đảo ở Biển Đông.
Giáo sư Lý viết: "Nghiên cứu tài liệu lịch sử của Việt Nam cũng như chứng cứ lịch sử của Trung Quốc cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa là tên hai quần đảo ngay ngoài khơi miền Trung Việt Nam. Chúng hoàn toàn khác với hai quần đảo Nam Sa và Tây Sa".
Học giả này cũng nói lý lẽ của Việt Nam rằng Hà Nội được quyền tiếp quản quần đảo Trường Sa từ tay người Pháp là không có cơ sở vì "sau Thế chiến II, Pháp không kiểm soát quần đảo này".
"Thêm vào đó, không có giấy tờ nào chứng thực có sự chuyển giao giữa Pháp và Việt Nam."
Ông Lý Kim Minh nói vì trong quá khứ Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo nói trên, "thể theo quy tắc estoppel của luật pháp quốc tế, Chính phủ Việt Nam hiện nay cần tuân thủ sự công nhận từ trước đó".
Không chỉ đưa ra các phản biện đối với tuyên bố chủ quyền của Việt Nam, bài viết còn nói tới các tuyên bố chủ quyền của Philippines, Malaysia và Brunei.

Việt - Trung tiếp tục đàm phán về Biển Đông

Đàm phán cấp chuyên viên về Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc vừa diễn ra tại Hà Nội.

Hoàng hôn trên Biển Đông. Ảnh: travelpod.com.
Hoàng hôn trên Biển Đông. Ảnh: travelpod.com.
Thông báo của Bộ Ngoại giao hôm nay cho biết từ ngày 29/7 đến 1/8 đã diễn ra Đàm phán vòng 7 cấp chuyên viên về Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.
"Qua 7 vòng đàm phán, hai bên đã sơ bộ nhất trí với nhau về một số nguyên tắc như: Các tranh chấp ở Biển Đông cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982", văn bản trên dẫn lời của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga.
"Trong quá trình giải quyết tranh chấp, cần nghiêm chỉnh thực hiện “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), không tiến hành bất cứ hành động nào nhằm mở rộng, phức tạp hóa tranh chấp, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; Những vấn đề chỉ liên quan đến Việt Nam và Trung Quốc thì giải quyết song phương, những vấn đề liên quan đến các bên khác thì cần trao đổi giữa các bên liên quan".
Hai bên thỏa thuận sẽ tổ chức vòng đàm phán tiếp theo trong năm nay.
Mai Trang

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Biển Đông: Tại sao trật tự của Trung Quốc lại có vấn đề?



Việc chính phủ Trung Quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá, bắt ngư dân, sử dụng tàu hải giám giữ nhiệm vụ "giám sát" được miêu tả như trong vị thế của một hoàng đế, xem dưới gầm trời này tất cả điều là tài sản của thiên tử và không ngần ngại sử dụng vũ lực quân sự nếu lợi ích bị xâm phạm.
Lời dẫn: Luận điểm chính của bài viết này "Đi tìm một trật tự mới cho Biển Đông" cho rằng sự chuyển đổi nhanh chóng cấu trúc sức mạnh tại khu vực đã ảnh hưởng và thách thức trật tự hiện có tại biển Đông.
Với việc lý giải lại các điều khoản trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) phục vụ tùy theo lợi ích, và nâng mức độ từ người tham gia, thành tác nhân "giám sát", Trung Quốc đang chuyển từ việc chấp nhận thỏa thuận ngầm trong những trụ cột trật tự hàng hải khu vực sang thái cực phản đối và đối chọi, dần dần trên đường xây dựng một trật tự dưới ảnh hưởng của mình. Những hành động này đang là nguồn gốc của căng thẳng xảy ra trong thời gian gần đây.
Hướng tới hòa bình và thịnh vượng chung, một "trật tự mới" cần được tái lập trong đó nhấn mạnh nhu cầu bức thiết về quá trình „định chế hóa" như một giải pháp căn cơ lâu dài, trong đó phân biệt giữa „phương tiện" và „cứu cánh" trong cách tiếp cận chính sách cho các nước ASEAN và Việt Nam.
Phần 1: Tại sao "trật tự" của Trung Quốc là vấn đề?
Một khu vực "trật tự" hàm ý các hoạt động, sự việc xảy ra trong phạm vi này được quy định và kiểm soát. Thường thì bằng luật "cứng", được hiểu như điều khoản, quy định, pháp lệ. Như tại một ngã tư đèn đỏ là dừng, đèn xanh duy chuyển, còn đèn vàng là dấu hiệu chuẩn bị. Hay bằng luật "mềm", ví như cách hiểu giữa các thành viên cộng đồng; đồng thuận, giữ gìn và bày tỏ thái độ nếu có cá nhân nào vượt quá giới hạn cho phép. Như trong bệnh viện thì đi nhẹ nói khẽ, nơi công cộng nên có hành vi đúng mức, ưu tiên cho người thiểu năng, nhường nhịn phụ nữ có thai.
Điểm giao thoa của hai góc nhìn này là giúp cho quan hệ giữa thành viên có thể nhận diện bằng các tín hiệu được đoán trước. Nếu bệnh viện được phép hò la như sân đá banh, ai muốn ra vào lúc nào cũng được, hay không còn sự tương kính, nhường nhịn giữa người và người trong cộng đồng, thì tính "trật tự" sẽ không giá trị, và hành vi giữa mỗi người chuyển dịch theo một dấu hiệu khác.
Từ trật tự đến vô trật tự cách nhau một gang tay, là xuất hiện của một hành động ngược lại các quy chế, chuẩn tắc chung mà mọi người đang theo đuổi. Vô trật tự dẫn đến rối loạn vì thiếu vắng chỉ dấu dẫn dắt về hành vi.
Trên bình diện trong một quốc gia, Nhà nước và cộng đồng là hai tác nhân đảm bảo trật tự. Khi một cá nhân vi phạm, Nhà nước trừng phạt bằng luật lệ, xã hội răn đe bằng đạo đức. Trên bình diện quốc tế, sự việc phức tạp hơn, song hành nhiều góc nhìn nhận định.
Hình dung thứ nhất miêu tả thế giới là thực trạng vô chính phủ, khi một siêu nhà nước không tồn tại, và một siêu cộng đồng cũng không hiện hữu. Để đảm bao an ninh buộc các quốc gia giải quyết vấn đề bằng sức mạnh.
Cân bằng quyền lực là chính sách được tiến hành hàng thế kỷ qua từ Âu sang Á. Cân bằng nội lực thông qua tăng cường súng ống, khả năng quốc phòng. Ngoại lực bằng cách thiết lập liên minh, tham gia tổ chức liên kết quân sự. Điểm giữ cho hệ thống ổn định là mức độ cân bằng, tức là không có sức mạnh nào trở thành vượt trội.
Và đó là nguyên tắc phân định giữa góc nhìn thứ hai, xem sức mạnh là một phần của luật chơi, nhưng tính vượt trội của một siêu cường đóng vai trò then chốt. Thứ nhất, khoảng cách sức mạnh quá lớn để các nước khác có thể cân bằng. Thứ hai, siêu cường giữ vai trò lãnh đạo, "đứng mũi, chịu sào" bài toán "hàng hóa công", thứ rất cần cho việc thúc đẩy hợp tác, nhưng đắt, và ít cá nhân nào có khả năng chi trả, hay chấp nhận trả một mình. Có thể kể đến vai trò của Hoa Kỳ trong trong công cuộc tái thiết châu Âu với kế hoạch Marshall hay Đức quốc và Pháp trong kế hoạch thống nhất EU. Hay dàn binh bố trận của hải quân Mỹ để đảm bảo tự do lưu thông trong khu vực châu Á Thái Bình Dương. Trật tự lúc này ổn định nhờ sự có mặt của "vương quyền".
Vượt qua bài toán sức mạnh, hình dung thứ ba được xây dựng trên cơ sở luật và chuẩn tắc. Luật pháp qui phạm những hành vi hợp pháp, và không hợp pháp. Chuẩn mực quy phạm những việc nên hay không nên. Liên Hiệp Quốc (Hiến chương, các bộ luật quốc, các cơ quan chấp pháp) và công luận quốc tế là phiên bản gần nhất cho hình dung về một công lý tối thượng, và một giá trị bao trùm. Bên cạnh đó là quá trình định chế hóa các mối quan hệ quốc tế với lập luận: luật là điều kiện cần, chuẩn tắc đằng sau luật là điền kiện đủ đề điều khiển tất cả hành vi.

Ảnh minh họa BBC
Có sức mạnh của sự cân bằng, có siêu cường nắm vai trò ổn định và tồn tại luôn những cơ chế  pháp lý chính thức cũng như bán chính thức đề quy định hành vi, Biển Đông và tranh chấp tại đây vẽ lên bức tranh hỗn hợp. Bức tranh này tuy vậy đang dần dần ngược lịch sử về quá khứ, khi xu hướng sức mạnh và tự diễn dịch (thay vì giải quyết bằng luật pháp và tìm đồng thuận) đang dần dần nắm thế thượng phong.
Thứ nhất, xuất phát từ sự khác biệt về quan niệm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Trung Quốc, tự do hàng hải tại khu vực đang được định nghĩa lại dưới một lăng kính khác.
Theo UNCLOS, các nước ven biển có chủ quyền tuyệt đối tại vùng biển nội thủy và lãnh hải (không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở), và hưởng thụ quyền lợi kinh tế bao gồm khai thác, thăm dò, đánh bắt v.v... tại EEZ (rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở). Trong khi các hoạt động quân sự, do thám, nghiên cứu của tàu thuyền nước ngoài hoàn toàn không được cho phép trong vùng lãnh hải, hoạt động này được xem là không vi phạm quy chế trong khu vực EEZ.
Ngược lại, Trung Quốc cho rằng các quốc gia ven biển không những có thẩm quyền kinh tế đối tại EEZ mà còn thẩm quyền về tất cả hình thức hoạt động khoa học khác. Điều này có nghĩa là mọi công tác nghiên cứu, đo đạc, khảo sát thủy văn đều phải được sự cho phép quốc gia ven biển.
Việc tàu do thám Impeccable năm 2009 là một thí dụ cho thấy các diễn dịch và hành xử mới của chính phủ Bắc Kinh về luật Biển. Làm nhiệm vụ thăm dò cách đảo Hải Nam 75 dặm phía Nam, bên ngoài lãnh hải, nhưng trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của nước này, Impeccable đã bị nhiều tàu Trung Quốc bao vây.
Phía Mỹ lập luận, Trung Quốc vi phạm luật và thông lệ quốc tế, vì Impeccable chỉ thực công việc khảo sát, và không có dấu hiệu gì cho thấy đã gây tổn thương đến quyền lợi kinh tế theo quy chế EEZ. Đáp trả, Bắc Kinh cho rằng Hoa Kỳ lợi dụng quyền tự do giao thông chuyển hướng tiến hành hoạt động thu thập tình báo, gây phương hại đến an ninh quốc gia.
Qua sự kiện trên có thế thấy rằng, thỏa hiệp giữa quyền kinh tế của quốc gia ven biển và quyền vận chuyển quá cảnh của các nước theo tập quán quốc tế - dưới góc nhìn của Bắc Kinh - nên được thay thế bằng nâng cấp mức độ EEZ tương đương với quy chế lãnh hải, nơi nước ven biển được hành xử chủ quyền một cách không giới hạn.
Bằng cách hợp thức hóa thông qua pháp lý (đạo luật đặc quyền kinh tế trong Bộ Luật Khảo sát và Bản Đồ năm 2002, mở rộng từ điều số 9 của luật Biển 1998 quy định cấm tàu các nước khác khảo sát, đo đạc trong EEZ), cùng áp lực ngoại giao (Bắc Kinh đã nhiều lần kêu gọi Mỹ giảm dần, tiến tới chấm dứt các chiến dịch tuần tra khảo sát vùng biển để tránh "va chạm về hàng hải"), Trung Quốc dần dần định chế hóa khu vực EEZ của mình thành khu đặc quyền quân sự.
Một mặt đây có thể xem như một cố gắng giảm dần ảnh hưởng của Mỹ trong vùng biển Đông. Mặt khác, mâu thuẫn với điểm đầu tiên, chính phủ Bắc Kinh lại cho phép mình "tự do hàng hải" trên khu vực EEZ của các nước tranh chấp khác.
Và khác với các quốc gia ven biển có lập luận tương tự, nhiều chỉ dấu thể hiện rằng việc thụ hưởng quyền này đang hình thành dựa trên nền tảng sức mạnh chiến hạm thay vì định chế giữ tiếng nói cuối cùng. Bài viết mới đây của tác giả Dana Dillon trên tạp chí Policy Review ví von biển Đông là đụng độ giữa hai thế giới quan, một là của cộng động thế giới qua lăng kính "chủ quyền quốc gia" như trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc và UNCLOS quy định, một là "trung tâm-ngoại vi" của Trung Quốc với Bắc Kinh ở tâm điểm cùng nhiều vệ tinh quay xung quanh như mô thức chư hầu trong lịch sử.
Dưới góc nhìn trên, việc chính phủ Trung Quốc đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt cá, bắt ngư dân, sử dụng tàu hải giám giữ nhiệm vụ "giám sát" được miêu tả như trong vị thế của một hoàng đế, xem dưới gầm trời này tất cả điều là tài sản của thiên tử và không ngần ngại sử dụng vũ lực quân sự nếu lợi ích bị xâm phạm. Nếu trở thành chính sách chủ đạo, "trật tự mới" của Bắc Kinh rõ ràng không những đe dọa nghiêm trọng nguyên tắc chủ quyền mà các quốc gia trong vùng xem như "tối thượng", mà còn góp phần hiện thực hóa dự đoán bi quan của trường phái duy thực xem tương lai của châu Á là quá khứ của châu Âu: là chiến tranh, đụng độ, xung đột vũ trang.

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2011

Căng thẳng Biển Đông, cơ hội cho Ấn Độ cân bằng quyền lực tại Đông Nam Á

Ngay cả khi Việt Nam và Trung Quốc vẫn tiếp tục thực hiện các cuộc diễn tập hải quân ở vùng biển phía Nam Trung Hoa (Biển Đông VN), Hà Nội đã bắt đầu thực hiện cuộc đối thoại trực tiếp cho phép sự tham gia của nước ngoài vào vụ tranh chấp lãnh thổ của hai quốc gia hàng hải. 

Trong khi nhiều nhà bình luận đã coi điều này như một lời mời kín đáo qua mặt Hoa Kỳ, động thái này cũng có thể là một tiền đề để Ấn Độ thành lập một sự hiện diện hải quân và thường trú tại vùng biển Việt Nam. Ấn Độ dường như đã phản ứng thuận lợi để thường xuyên được đỗ tại cảng Nha Trang Việt Nam. Bước đi này sẽ không chỉ tăng thêm sức mạnh quân sự cho chính sách"Hướng Đông" của Ấn Độ, mà còn là biểu tượng hình ảnh của Ấn Độ, là một nỗ lực lớn hơn để chống lại các hoạt động của Trung Quốc ở Nam Á.

Việt Nam đã một mình chống lại Trung Quốc năm 1979, nhưng năm 1974 và năm 1988 là không ấn tượng lắm. Kể từ 1979 sự bất đối xứng trong sức mạnh hải quân giữa Trung Quốc và Việt Nam đã phát triển theo cấp số nhân, trong khi Hà Nội đã bị mất đảm bảo an ninh thời Xô Viết. 

Rõ ràng là Việt Nam đòi hỏi một sức mạnh hải quân đáng tin cậy hơn để can thiệp thay mặt để ngăn chặn các mối nguy hiểm từ Trung Quốc. Đó có thể là sức mạnh  Ấn Độ. Trong một động thái đã được sắp diễn ra trong một thời
 gian, Ấn Độ cuối cùng đã có sự hiện diện hải quân dài hạn tại Nha Trang,  phía nam của căn cứ hải quân mới của Trung Quốc, tại Tam Á trên đảo Hải Nam.

Đề xuất về Nha Trang đã được tái khẳng định của  Phó Đô đốc Nguyễn Văn Hiến trong chuyến thăm gần đây tới Ấn Độ. Tướng Hiến đã đến thăm hai nhà máy đóng tàu của Ấn Độ và có các cuộc họp được tiến hành về vấn đề giúp đỡ để làm cho Hải quân Việt Nam tăng cường sức mạnh chiến đấu. Trong khi nhà máy đóng tàu của Ấn Độ  thực sự đủ năng lực thực hiện các đơn đặt hàng trong nước,nhà máy đóng tàu tư nhân mới thành lập có thể sẽ được trao thực hiện các hợp đồng cung cấp cho Việt Nam  các tàu tuần tra ngoài khơi và tàu tấn công nhanh. Trong bất kỳ trường hợp nào, Ấn Độ vẫn sẽ tiếp tục đào tạo cán bộ hải quân  cho Việt  Nam và giúp duy trì bảo dưỡng ... bất kỳ thiết bị nào của Việt Nam có từ Nga. New Delhi cũng đã đồng ý trên nguyên tắc để bán các tên lửa chống tàu siêu âm BrahMos và các tên lửa có thể như Prithvi.

Tên lửa tuần hành siêu âm Brahmos của Nga và Ấn Độ.
Ít nhìn thấy, nhưng không kém phần quan trọng, là IT Ấn Độ tham gia vào các ngành công nghiệp quân sự, xây dựng các trung tâm giải pháp mạng cho các lực lượng vũ trang của Việt Nam. Điều đáng tiếc là trong quá khứ Ấn Độ không đủ sức mạnh để hỗ trợ chính sách Hướng Đông, những căng thẳng hiện nay ở vùng biển phía Nam Trung Hoa (Biển Đông VN) đã cung cấp cho Ấn Độ một cơ hội để có mặt tại khu vực Đông Nam Á , bằng sức mạnh của mình sẵn sàng để giúp và duy trì sự cân bằng quyền lực châu Á.

Một sự hiện diện và thường trú tại Nha Trang về cơ bản sẽ được  Ấn Độ thực hiện để đối phó với một "chuỗi đảo thứ ba của Trung Quốc" có thể có trong Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.  Nha Trang sẽ cho phép Ấn Độ có thể  giám sát tốt biển Đông Việt Nam ( vùng biển phía Nam Trung Hoa) và eo biển Malacca,  đảm bảo năng lượng của Ấn Độ và các vận chuyển thương mại với vùng Viễn Đông Nga, Hải quân Ấn Độ sẽ tiếp cận với băng thông tin liên lạc lớn của Trung Quốc (SLOCs).

...

Điều thú vị hơn nữa là, không chỉ Hoa Kỳ kêu gọi Ấn Độ đóng một vai trò lớn hơn trong các vấn đề của châu Á. Tokyo dường như đã thiết lập những điều này trong hành động khi Nhật Bản bắt đầu một cuộc đối thoại ba bên giữa Nhật Bản,Mỹ và Ấn Độ trong tháng tư. Điều này được thực hiện theo sau một tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton trong chuyến thăm gần đây tới New Delhi, Ấn Độ nên quyết đoán hơn trong các vấn đề của châu Á. Lời kêu gọi được lặp lại bởi bộ trưởng quốc phòng của Úc trong một bài phát biểu tại Viện Brookings. Có vẻ như Bắc Kinh đã tự làm lộ mình, thông qua các hành động gần đây của họ, đã làm hồi sinh chủ động cái gọi là bộ tứ, Ấn Độ, Nhật Bản, Australia và Mỹ . Nhóm này đã thực hiện một cuộc diễn tập hải quân chung trong năm 2007, sau đó Trung Quốc lên tiếng phản đối việc liên minh chống lại Trung Quốc. 

Người Trung Quốc dường như cũng nhận thức được lập trường cứng rắn của Ấn Độ, và họ cũng phải chấp nhận. Lần đầu tiên trong nhiều tháng, Trung Quốc đã bày tỏ sự ủng hộ một vai trò lớn hơn cho Ấn Độ trong Tổ chức Hợp tác Thượng Hải. Trong các cuộc họp song phương cùng với các chính trị gia Ấn Độ, Trung Quốc dường như cũng bày tỏ sự sẵn sàng của họ trong việc giúp Ấn Độ có một ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc...

Tuy nhiên, Ấn Độ dường như không làm như vậy bởi vì Ấn Độ cần nguồn đầu tư và công nghệ của Nhật Bản, ngay cả khi mối quan hệ kinh tế giữa hai cường quốc châu Á tiếp tục càng ngày càng sâu sắc hơn. Mối quan hệ của họ đang phát triển cũng có nghĩa là Ấn Độ có cổ phần trực tiếp trong việc giữ đường thủy kết nối Ấn Độ với Nhật Bản - cũng như với Hàn Quốc - một mối quan hệ "quốc tế" hơn là một mối quan hệ với Trung Quốc. Câu thần chú trong Khối Nam tại thời điểm này dường như được hiểu rằng nếu Ấn Độ Dương không phải đại dương của  Ấn Độ,thì  vùng biển phía Nam Trung Hoa cũng không phải là biển phía nam của Trung Quốc.

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2011

Tranh chấp Biển Đông

Philippines muốn phân định vùng tranh chấp Biển Đông

Manila hôm nay tuyên bố sẽ tìm kiếm sự đồng thuận của khu vực đối với kế hoạch phân định và sau đó khai thác chung tài nguyên ở những khu vực tranh chấp trên Biển Đông.

Các chuyên gia pháp lý của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sẽ gặp nhau ở Manila vào tháng 9 để bàn về một đề xuất như vậy, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernandez thông báo với các phóng viên.
Ông cho biết mục đích cuối cùng của việc này là đảm bảo các nước ASEAN, sau đó là Trung Quốc, chấp nhận kế hoạch phân định các khu vực biển tranh chấp trên Biển Đông, nơi được cho là giàu tài nguyên và chứa các tuyến hàng hải quan trọng với thương mại thế giới.
"Nếu chúng ta có thể xác định những phần tranh chấp, chúng ta sẽ có khả năng khai thác chung", Hernandez nói.
Những khu vực không tranh chấp sẽ thuộc về quốc gia nào sở hữu khu vực đó, ông nói thêm.
Tàu chiến lớn nhất mà Philippines vừa mua để tuần tra trên Biển Đông. Ảnh:
Tàu chiến lớn nhất mà Philippines vừa mua để tuần tra trên Biển Đông. Ảnh: US Coast Guard.
Biển Đông là nơi có các tuyên bố chủ quyền tranh chấp giữa Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaysia và Brunei. Những tháng gần đây tình hình Biển Đông nóng lên do những tố cáo qua lại giữa các bên. Trung Quốc đã cho tàu quấy phá hoạt động của tàu Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế và trên thềm lục địa của Việt Nam, với mục đích biến vùng không tranh chấp thành có tranh chấp.
Philippines cũng tố cáo các phương tiện của Trung Quốc xâm phạm vùng nước mà Manila đã tuyên bố chủ quyền. Trung Quốc thì bác bỏ các cáo buộc và khẳng định họ mong muốn giải quyết vấn đề qua đối thoại và hòa bình. Tuy nhiên Bắc Kinh vẫn khẳng định yêu sách 9 đoạn vô căn cứ của họ, bao gần trọn Biển Đông. Trung Quốc cũng nhắc lại quan điểm có thể khai thác chung các vùng tranh chấp trên Biển Đông, với điều kiện khẳng định chủ quyền của họ. Điều này bị các bên liên quan phản đối.
Ông Hernadez nói nếu đề xuất của Philippines thu hút sự chú ý của các bên, nó sẽ được trình ra trước các quan chức cấp cao và sau đó là các ngoại trưởng ASEAN.
Bước tiếp theo, thuyết phục Trung Quốc đồng thuận với kế hoạch này, sẽ là một thử thách, Hernandez dự đoán. "Chúng tôi hy vọng rằng Trung Quốc sẽ lắng nghe tiếng nói của ASEAN và cả của cộng đồng quốc tế", ông nói.

Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2011

Biểu tình yêu nước phản đối Trung Quốc Lần thứ tư 26-06-2011

9h30: HÀ NỘI BẮT ĐẦU BIỂU TÌNH


9h40 tại Bờ Hồ. Ảnh: Nguyễn Xuân Diện

6h50′ … Anh Ba Sàm cho biết: Không biết có biểu tình không mà cảnh sát, an ninh chìm nổi, dân phòng đầy nhóc, giăng quanh Sứ quán Trung Quốc, Vườn hoa, Bảo tàng, đường Điện Biên, Trần Phú, Hoàng Diệu … 

Đường Hoàng Diệu vẫn bị ngăn như các tuần trước. 

07h24: Cafe Highland chân Cột Cờ Hà Nội không mở cửa.

Nét mới ở HN hôm nay: Có thêm lực lượng thanh niên tình nguyện tham gia giữ trật tự xung quanh khuc vực ĐSQ TQ. Một người bạn của NXD cho biết: Thanh niên tình nguyện không bỏ áo trong quần, không đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, miệng phì phèo thuốc lá trong khi tiếp cận các quán cafe xung quanh ĐSQ TQ. 

9hh20: Hình thành đoàn biểu tình khoảng 50 người bắt đầu đi quang Bờ Hồ. 

Đoàn biểu tình không có nhiều cờ đỏ, nhưng rất nhiều biểu ngữ (khổ nhỏ). Còn tiếng hô thì vang dội một góc Hồ Gươm.

Tại Vinh và Sài Gòn: tính từ sáng đến giờ này (9h50) không hình thành các cuộc biểu tình.
Đoàn biểu tình ở Hà Nội đa số là thanh niên sinh viên. Có hai xe cảnh sát  giao thông kèm ở dưới lòng đường, nhưng lại đi ngược chiều giao thông (tại đoạn Bờ Hồ trước tượng đài Lý Công Uẩn). Đoàn biểu tình vẫn đi trên Bờ Hồ chọn cách đi ngược lại so với lần trước, khiến đoàn xe hộ tống bên dưới trở thành ra ...vi phạm luật giao thông.

Đã xảy ra chuyện với Nguyễn Xuân Diện rồi! hu huu..
Nguyễn Xuân Diện bị vỡ kính...hiện đang trong cảnh mù dở...
Có bác nào có kính, xin cho mượn 1 chiếc...

CHÙM ẢNH CỦA NGUYỄN XUÂN DIỆN GHI LẠI NHỮNG HÌNH ẢNH TỪ HÀ NỘI

Gần ĐSQ TQ, Nguyễn Xuân Diện bất ngờ gặp một người mà mình ngưỡng mộ đã lâu mà chưa có dịp gặp



Bắt đầu sang đường tiếp cận Vườn hoa Lê - Nin

Và giăng cờ, bộc lộ tình yêu Tổ quốc và nỗi căm hờn khi lãnh hải bị giặc xâm lăng


Công an Hà Nội đặt biển cấm cả bên đường đối diện với Vườn hoa Lê-nin
và không cho mọi người đứng ở đây



Các em phục vụ trong Cafe Cột Cờ hôm nay rất nhàn rỗi vì không có khách


 Dưới đây là hình ảnh từ BỜ HỒ HOÀN KIẾM








Tình hình ở tp VINH (Nghệ An) hôm nay:

Chú Diện! Hôm trước cháu về quê trên Con Cuông. Và 3h sáng hôm nay cháu tức tốc lên ô tô chạy ngay xuống Vinh để kịp thông tin cho chú. 7hkém 10 mới đến nơi. Cháu liền chạy xe vào trung tâm thành phố, chạy đi chạy lại khắp nơi. Đến những nơi trọng điểm của Vinh và những khu vực "nhạy cảm" như: ĐH Vinh, ĐH Y Vinh, quảng trường Hồ Chí Minh, tỉnh ủy, bộ tư lệnh quân khu 4, trụ sở phường Quang Trung và Lê Lợi... và nhiều nơi khác nữa nhưng đều không thấy điểm gì khác thường. Thành phố Vinh hôm nay đúng nghĩa một ngày chủ nhật - yên bình và lặng lẽ. 

Hà Nội: Từ Bờ Hồ, đoàn tiến về đường Bà Triệu rồi đứng lại khoảng 15 phút đoàn rẽ sang đường Hai Bà Trưng, sau đó về đường Điện Biên Phủ và giải tán tại khu vực cận kề vườn hoa Lệ - Ninh (cách phiên âm của các cụ ngày xưa). Lúc ấy là 10h45. 
 

-=- Ảnh đẹp -=-

-=- Ảnh đẹp -=-
TKT